Chúng ta không thể giải quyết các vấn đề bất ổn của mình với cùng những suy nghĩ giống như khi ta đã tạo ra chúng. (We cannot solve our problems with the same thinking we used when we created them.)Albert Einstein
Cỏ làm hại ruộng vườn, sân làm hại người đời. Bố thí người ly sân, do vậy được quả lớn.Kinh Pháp Cú (Kệ số 357)
Trời không giúp những ai không tự giúp mình. (Heaven never helps the man who will not act. )Sophocles
Chúng ta nên hối tiếc về những sai lầm và học hỏi từ đó, nhưng đừng bao giờ mang theo chúng vào tương lai. (We should regret our mistakes and learn from them, but never carry them forward into the future with us. )Lucy Maud Montgomery
Hãy dang tay ra để thay đổi nhưng nhớ đừng làm vuột mất các giá trị mà bạn có.Đức Đạt-lai Lạt-ma XIV
Khi mọi con đường đều bế tắc, đừng từ bỏ. Hãy tự vạch ra con đường của chính mình. (When all the ways stop, do not give up. Draw a way on your own.)Sưu tầm
Điểm yếu nhất của chúng ta nằm ở sự bỏ cuộc. Phương cách chắc chắn nhất để đạt đến thành công là luôn cố gắng thêm một lần nữa [trước khi bỏ cuộc]. (Our greatest weakness lies in giving up. The most certain way to succeed is always to try just one more time. )Thomas A. Edison
Tôi chưa bao giờ học hỏi được gì từ một người luôn đồng ý với tôi. (I never learned from a man who agreed with me. )Dudley Field Malone
Lời nói được thận trọng, tâm tư khéo hộ phòng, thân chớ làm điều ác, hãy giữ ba nghiệp tịnh, chứng đạo thánh nhân dạyKinh Pháp Cú (Kệ số 281)
Cuộc sống ở thế giới này trở thành nguy hiểm không phải vì những kẻ xấu ác, mà bởi những con người vô cảm không làm bất cứ điều gì trước cái ác. (The world is a dangerous place to live; not because of the people who are evil, but because of the people who don't do anything about it.)Albert Einstein

Trang chủ »» Danh mục »» TỦ SÁCH RỘNG MỞ TÂM HỒN »» Tìm hiểu Phật pháp »» Xem đối chiếu Anh Việt: Karl Marx và Thiền Đi Bộ »»

Tìm hiểu Phật pháp
»» Xem đối chiếu Anh Việt: Karl Marx và Thiền Đi Bộ

(Lượt xem: 1.719)
Xem trong Thư phòng    Xem định dạng khác    Xem Mục lục  Vietnamese || English || Tải về bảng song ngữ


       

Font chữ:
Font chữ:

Karl Marx và Thiền Đi Bộ

Đó là chuyện ít người biết: Karl Marx, một trong những lý thuyết gia khai sinh ra chủ nghĩa cộng sản, đã biết tới Phật Giáo, và từng cho biết rằng ông ứng dụng Thiền đi bộ (còn gọi là Kinh hành) và thấy an lạc suốt trọn ngày, tới cảm giác an lạc mà ông gọi là cảnh giới “vô sở hữu” (nothingness) của nhà Phật.

Phần lớn các sách tiểu sử về Marx không nói gì về chuyện này. Thực ra, dịch thuật sơ xuất có thể nhầm lẫn, vì cảnh giới “vô sở hữu” có lẽ không thể tới từ Thiền đi bộ. Dịch đúng, có lẽ nên dịch là “vô tâm” vì trong thư, Marx viết là lúc đó ông không bận tâm chuyện gì, mà đã “trở thành một cây gậy đi bộ” (I have become myself a sort of walking stick)… Đây cũng là một hình ảnh rất Thiền, khi Karl Marx thấy tự thân mình biến mất, và mình với cây gậy như là một.

Tạp chí CounterPunch ấn bản 18/6/2019, bài viết “Marx and Walking Zen” (Marx và Thiền Đi Bộ) của tác giả Gary Leupp ghi nhận về chuyện Marx ứng dụng Thiền đi bộ. Gary Leupp hiện đang là Giáo sư Sử học tại đại học Tufts University, tác giả nhiều sách nghiên cứu về lịch sử Nhật Bản, đặc biệt các vấn đề lao động, giai cấp và tính phái thời kỳ Tokugawa (1603-1868). Lĩnh vực nghiên cứu hiện nay của GS Leupp là lịch sử toàn cầu của Phật Giáo và tiếp cận của tôn giáo này với Tây phương thời kỳ tiền hiện đại. Ông cũng viết nhiều bài về tình hình chính trị hiện thời của Hoa Kỳ, Nga, Nhật Bản, Đức, Iran, Sri Lanka…

Có vài chữ Gary Leupp lượng định về ảnh hưởng của Marx có thể làm một số độc giả không đồng ý, tuy nhiên nơi đây cũng sẽ được dịch toàn văn để tham khảo. Sau đây là bài GS Gary Leupp viết về Karl Marx và Thiền đi bộ.


… o …

Trong tháng 3/1866 (một năm trước khi Tập 1 của bộ sách Das Kapital xuất bản), Marx lúc đó 48 tuổi, đang nghỉ ngơi bên bờ biển Hòa Lan, tại thị trấn Margate. Ông viết một lá thư cho cô em họ Antoinette Philips, con gái của Lion Philips, một thương gia thuốc lá ở thị trấn Zaltbommel gần đó. (Lion là chồng của người phụ nữ trước đó kết hôn với Heinrich Marx, thân phụ của Karl Marx. Phụ nữ này có lẽ nổi tiếng nhất là người thúc giục Marx điền một bản trả lời nhiều câu hỏi, một trò chơi thịnh hành thời Victorian, năm 1865. Trong bản trả lời các câu hỏi, trong đó Marx nói rằng Spartacus là vị anh hùng ông ngưỡng mộ, trong khi Shakespeare và Aeschylus là các nhà văn ông ưa thích.) Trong thư, ông gọi cô Antoinette (29 tuổi) một cách vui đùa là “Đứa con nhỏ của bố.”

Trước tiên, Marx than phiền một cách đùa giỡn rằng trước đó ông đã bị “lưu đày, theo lệnh cố vấn y khoa của bố, phải tới vùng bờ biển này, nơi thời điểm này trong năm, rất mực cô tịch.”

Ông ghi nhận rằng, trong khi ở các thời điểm khác trong năm, ông có thể “bị nguy cơ tình cờ gặp và đi với một du khách lạc bước nào đó.” Trong khi bây giờ ông an vui một mình thôi.

Ông viết, “Do vậy, bố không bận tâm cho ai, và không ai bận tâm cho bố. Nhưng không khí tuyệt vời trong lành và đầy sinh lực, và nơi đây là cùng lúc khí trời từ biển giao hòa với khí trời miền núi. Bố tự thân trở thành như một cây gậy đi bộ, đi lên và đi xuống trọn ngày, và giữ tâm trong trạng thái vô tâm mà Phật Giáo gọi là đỉnh cao của an lạc nơi cõi người.”

Người ta dễ có thiên hướng nói rằng Marx không biết nhiều về Phật Giáo. Nhưng ông là một học giả sắc bén về các vấn đề thế giới, và có thể đã biết nhiều về Phật Giáo hơn cả 99/100 người Châu Âu lúc đó. Chúng ta đôi khi quên rằng Karl Marx và Friedrich Engels là hai người trong nhóm các tư tưởng gia tuyệt vời nhất của thế kỷ 19, mà những người chỉ trích đương đại lại là những tâm địa thấp lùn khi so sánh với họ.

Chữ “Buddhism” (Phật Giáo, viết trong tiếng Anh), hay vài chữ tương đương khác, chỉ lưu hành từ thập niên 1820s; sách tiếng Anh đầu tiên viết chi tiết về đề tài này là “The History and Doctrine of Buddhism” (Lịch Sử và Giáo Pháp của Phật Giáo) của tác giả Edward Upham, xuất bản năm 1844. Marx có lẽ biết về sách này. Trong thập niên 1830s, triết gia Georg W. F. Hegel đã xuất bản các bài thuyết trình mô tả Phật Giáo như một hệ thống tín ngưỡng bi quan, trong đó lấy trạng thái “vô sở hữu là nguyên tắc, mục tiêu và kết thúc mọi thứ” (“nothingness the principle, goal and end of everything” – ghi chú của người dịch: lẽ ra, nơi đây trong tiếng Anh, chữ “emptiness” nên dùng hơn chữ “nothingness” tuy cả hai bề ngoài cận nghĩa nhau, vì thói quen dịch Emptiness là Không, tức là bản chất duyên khởi, trong khi chữ Nothingness thường được các dịch giả dùng cho nghĩa “vô sở hữu” – một cảnh giới tâm thức trong định). Nhưng Marx rồi sẽ chuyển ngược lý luận của Hegel. Marx có thể -- nếu Marx từng sáng tác rằng “hai hay ba trang giấy về lý luận biện chứng” Marx từng nhắc tới Engels—đã trình bày về biện chứng của Tổ Sư Long Thọ. (Như chúng ta đã có trường hợp Mao Trạch Đông, từng rút từ tư tưởng Phật Giáo và lý luận âm-dương.)

Năm 1844, triết gia Pháp Eugene Burnouf lý luận rằng các tín ngưỡng thờ ngẫu tượng của hầu hết các nước Châu Á đều liên hệ nhau, khởi động cuộc nghiên cứu hàn lâm kiểu Tây phương hiện đại về Phật Giáo. Rồi Phật Giáo sớm được công nhận như một tôn giáo được truyền bá có sức mạnh tương đương Thiên Chúa Giáo hay Hồi Giáo về ảnh hưởng toàn cầu. Có nhà nghiên cứu còn nghĩ rằng Phật Giáo có thể đã ảnh hưởng tới Thiên Chúa Giáo. Arthur Schopenhauer, một Giáo sư cùng dạy nơi Hegel dạy ở đại học University of Heidelberg, đã viết vào năm 1851 rằng “bản Kinh Tân Ước [của Thiên Chúa Giáo]… chắc chắn trong cách nào đó có thể dò ra từ một nguồn gốc Ấn Độ: hệ thống đạo đức của nó, quan điểm khắc kỷ về điều răn của nó, tính bi quan, và một vị hóa thân xuống trần, tất cả đều có đặc tính Ấn Độ rõ ràng.”

Trong năm 1854, Karl Marx đưa giả thuyết trong vài bài báo về viễn ảnh của Taiping Rebellion (Cuộc Nổi Dậy Thái Bình Thiên Quốc) tại Trung Quốc sẽ trở thành một cuộc thánh chiến liên hệ tới Phật Tử Mãn Châu (có thể có Nga giúp đỡ) do người Tây Tạng hỗ trợ và những người dân Trung Quốc chống Phật giáo do Anh quốc hỗ trợ.

Từ chỗ Marx cho rằng loạn quân Taiping đã vào “cuộc thánh chiến chống Phật Giáo, phá hủy các ngôi chùa và thảm sát các nhà sư,” Marx tiên đoán sẽ có can thiệp từ người Tây Tạng nhân danh triều đình nhà Thanh vốn gốc Mãn Châu (nguyên khởi nối kết rất gần với Phật Giáo Tây Tạng).

Karl Marx viết trên báo New York Daily Tribune, ấn bản ngày 18/3/1854: “Cuộc thánh chiến vĩ đại giữa người Trung Hoa và các Phật Tử Mông Cổ dự kiến sẽ lan sang biên giới Ấn Độ, có thể xem như rất gần xảy ra.” Nhưng lịch sử không xảy ra chuyện đó. Loạn quân Thái Bình Thiên Quốc bị triều đình đánh bại với hỗ trợ từ người Anh, và không có cuộc thánh chiến nào xảy ra. Nếu Marx hiểu rõ hơn lịch sử [hiếu hòa của] Phật Giáo, hẳn là ông có thể tránh đưa ra tiên đoán như thế.

Nhưng dĩ nhiên, Marx cũng có một chút thiền duyệt pháp hỷ. Lúc đó, môn học về Phật Giáo chỉ sơ khai (nghĩa là, chưa nghiên cứu kỹ). Tới năm 1856, một học giả tiếng Sanskrit là Horace H. Wilson vẫn còn viết rằng “nan đề là chưa biết nhân vật có tên là Sakya Sinha hay Sakya Muni, hay Sramana Gautama, có hiện hữu thực sự hay không.” Tuy nhiên, vào năm 1879, độc giả thời kỳ Vitorian được đọc bài thơ hùng vĩ của Sir Edwin Arnold, nhan đề “The Light of Asia” (Ánh sáng Châu Á), ngợi ca Đức Phật, dựa vào các sử ký cổ đại, làm bực mình các giáo sĩ Anh Giáo những người nói rằng Phật Giáo làm suy yếu đức tin vào Jesus Christ. Karl Marx có thể đã đọc [các nghiên cứu đó] trước khi Marx lìa đời, và rồi an táng ở nghĩa trang Highgate Cemetery ở London năm 1883.

Chúng ta biết rằng vì lý do sức khỏe, Marx trong các năm cuối đời đã lui về sống cô tịch và trầm lắng. Marx để một thời gian trong năm 1882 tới sống ở Algiers, đi những cuộc đi bộ dài xuyên qua vườn Botanical Gardens (ghi chú: vườn này rộng 140-acre, trồng nhiều ngàn giống cây lạ để nghiên cứu). Thư của Marx từ nơi nghỉ ngơi (gửi về Engels và cô con gái Laura) nói nhiều về các giống cây, các loài thú, khí hậu và sức khỏe của ông. Các thư đó nói rõ rằng Marx đã nói chuyện với các quan chức thuộc địa, người Ả Rập, và nhiều người Châu Âu ở Algeria, luôn luôn đưa câu hỏi, luôn luôn cho thấy kiến thức ông mở rộng về lịch sử và về thời điểm đó. Đôi khi Marx viết thơ mộng khi mô tả về gió và mặt trăng. Marx cũng quan sát (trong thư gửi Laura, cô con gái) rằng “con cháu Mahomet” cư xử “tuyệt đối bình đẳng trong quan hệ xã hội của họ” nhưng rồi “họ sẽ đau đớn bị hủy diệt nếu không có một phong trào cách mạng.”

Tôi [tác giả Gary Leupp] không biết rằng Karl Marx có thực tập Thiền gì như “mindfulness” (tỉnh thức) hay không, hay chuyện đó có thành vấn đề không. Chỉ thấy thoải mái để biết rằng Marx một thời từng đi bộ, từng đi bộ trong trầm tư, từng đi bộ khi hình dung trong “trạng thái vô tâm” mà Phật Giáo xem như là đỉnh cao an lạc của cõi người.” Như thế là quá nhiều cho cái Không từ một nhân vật có bộ óc đầy những thông tuệ mà (bất kể đã chết từ 136 năm trước) tiếp tục sáng lung linh trong thế giới này.

… o …

Kinhin (“Thiền đi bộ”) là một phương pháp Thiền Phật Giáo mà tôi [GS Leupp] học từ Thiền sư Matsunami Taiun, Trụ trì của tự viện Ryosen-An, trong ngôi chùa Daitokuji tại Kyoto, Nhật Bản. Nhà sư Taiun mới viên tịch cuối năm 2018. Xin nguyện cho chút tro bụi từ ngũ uẩn của nhà sư Taiun sẽ để lại một vài tốt đẹp trong thế giới này.

(Nguyên tác “Marx and Walking Zen” -- tác giả Gary Leupp, tạp chí CounterPunch ấn bản 18/6/2019:

https://www.counterpunch.org/2019/06/18/marx-and-walking-zen/ )

Marx and Walking Zen




































In March 1866 (the year before Volume One of Das Kapital was published), the 48-year-old Marx was vacationing on the Dutch coast, at Margate. He wrote a letter to his cousin Antoinette Philips, daughter of Lion Philips, a tobacco merchant in nearby Zaltbommel. (Lion was the husband of a woman who had married Heinrich Marx, Karl’s father. She is perhaps best known as the woman who persuaded Marx to fill out a questionnaire, popular as a Victorian pastime, in 1865. That’s the one in which he identifies Spartacus as his hero and Shakespeare and Aeschylus as his favorite writers.) He addresses Antoinette playfully (at age 29) as “My dear child.”

He begins by complaining facetiously that he had been “banished, by my medical adviser, to this seaside place, which, at this time of the year, is quite solitary.” He noted that, while at other times of year, he’d have been “exposed to the danger of falling in with a stray traveler,” he was now pleasantly left to himself.

“As it is,” he wrote, “I care for nobody, and nobody cares for me. But the air is wonderfully pure and reinvigorating, and you have here at the same time sea air and mountain air. I have become myself a sort of walking stick, running up and down the whole day, and keeping my mind in that state of nothingness which Buddhism considers the climax of human bliss.”

It’s tempting to say that Marx didn’t know much about Buddhism. But he was a keen scholar of world affairs, and would have known more on the topic than 99 out of 100 Europeans at the time. We sometimes forget that Karl Marx and Friedrich Engels were among the most amazing minds of the nineteenth century, whose contemporary detractors are mental midgets in comparison.

The word “Buddhism,” or some variant thereof, had only become current from the 1820s; the first English-language book to deal in any detail with the subject was Edward Upham’s The History and Doctrine of Budhism, published in 1844. Marx was probably aware of it. In the 1830s the great philosopher Georg W. F. Hegel had published lectures depicting Buddhism as a thoroughly negative belief system, which made “nothingness the principle, goal and end of everything.” Marx was probably aware of this too.

But Marx was all about turning Hegel on his head. He might—had he ever composed that “two or three printer’s sheets on dialectical methodology” he once mentioned to Engels—have addressed Nagarjuna’s dialectics. (As it is, we have Mao’s, which arguably drawn upon Buddhist and yin-yang thought.)

In 1844 the French philologist Eugene Burnouf had established that the idolatrous religions of most Asian countries were all related, initiating the modern western academic study of Buddhism. Buddhism soon came to be recognized as a powerful historical missionary religion comparable to Christianity or Islam in its global impact. It was even suggested that it might have impacted that other great missionary world-religion, Christianity. Hegel’s colleague at the University of Heidelberg, Arthur Schopenhauer, had opined in 1851 that “[t]he New Testament…must in some way be traceable to an Indian source: its ethical system, its ascetic view of morality, its pessimism, and its Avatar, are all thoroughly Indian.”

In the 1854 Marx had speculated in some journalistic writings about the prospects of the Taiping Rebellion in China becoming a general religious war involving Tibetan-backed Manchu Buddhists (maybe aided by Russia) and British-backed Chinese anti-Buddhists. Claiming the Taiping rebels had “undertaken a regular crusade against Buddhism, destroying its temples and slaying its bonzes,” he predicted Tibetan intervention on behalf of the beleaguered Manchu (Qing) court (which was indeed closely connected to Tibetan-based Lamaist Buddhism).

“The great religious war between the Chinese and the [Buddhist] Tartars, which will spread over the Indian frontiers, may consequently be regarded as near at hand.” wrote Marx in the New York Daily Tribune, March 18, 1854. But this did not happen. The Taipings were defeated with British assistance, and there was no general religious war. Had Marx better understood Buddhist history he might have avoided predicting such.

Of course, he had precious little to go by. “Buddhology” was in its infancy. (As late as 1856 a Sanskrit scholar, Horace H. Wilson, was still pronouncing it “very problematical whether any such person as Sakya Sinha or Sakya Muni, or Sramana Gautama, ever actually existed.”) But as it happened, Marx had a friend named Karl Kopper who, when they met in 1861 in Berlin, presented him with his pioneering book on Buddhism, Die Religion des Buddha. It probably informed his letter to his cousin.

By 1879 Victorian readers were savoring the epic poem by Sir Edwin Arnold, The Light of Asia, celebrating the Buddha, based upon ancient hagiographic accounts, riling Anglican clerics who argued that it weakened faith in Christ. Marx may have read it before he himself entered parinirvana, and was enshrined in Highgate Cemetery in 1883.)

We do know that due to health reasons Marx became more reclusive and meditative in his last years. He spent part of 1882 in Algiers, taking long walks through the Botanical Gardens. His letters from his retreat (to Engels and to his daughter Laura) pertain to flora, fauna, people, weather and his heath. They make it clear he has had conversations with colonial officials, Arabs, and a range of Europeans in Algeria, always asking questions, always expanding his awareness of history and the present. He sometimes waxes poetic in describing the wind and the moon. He also observes (to his daughter Laura) that “Mahomet’s children” practice “absolute equality in their social intercourse” but “they will go to rack and ruin without a revolutionary movement.”

I don’t know that Marx practiced anything like “mindfulness,” or if it even matters. It’s just comforting to know that Marx once walked, walked pensively, walked imagining that “nothingness which Buddhism considers the climax of human bliss.” That’s a lot of nothingness from a sentient being with a brain full of brilliance that (his death 136 years ago notwithstanding) continues to radiate in this world.

***

Kinhin (“walking Zen”) is a Buddhist meditative practice to which I was introduced by the Rev. Matsunami Taiun, abbot of the Ryosen-An, temple of the Daitokuji in Kyoto. Taiun-sensei passed away late last year. May something of his scattered skandhas somehow persist to produce some good, unlikely though that seems, in this cosmos.

    « Xem chương trước «      « Sách này có 1146 chương »       » Xem chương tiếp theo »
» Tải file Word về máy » - In chương sách này

_______________

MUA THỈNH KINH SÁCH PHẬT HỌC

DO NXB LIÊN PHẬT HỘI PHÁT HÀNH




Kinh Dược sư


Cẩm nang phóng sinh


Hoa nhẫn nhục


Người chết đi về đâu

Mua sách qua Amazon sẽ được gửi đến tận nhà - trên toàn nước Mỹ, Canada, Âu châu và Úc châu.

XEM TRANG GIỚI THIỆU.






DONATION

Quý vị đang truy cập từ IP 3.236.225.33 và chưa ghi danh hoặc đăng nhập trên máy tính này. Nếu là thành viên, quý vị chỉ cần đăng nhập một lần duy nhất trên thiết bị truy cập, bằng email và mật khẩu đã chọn.
Chúng tôi khuyến khích việc ghi danh thành viên ,để thuận tiện trong việc chia sẻ thông tin, chia sẻ kinh nghiệm sống giữa các thành viên, đồng thời quý vị cũng sẽ nhận được sự hỗ trợ kỹ thuật từ Ban Quản Trị trong quá trình sử dụng website này.
Việc ghi danh là hoàn toàn miễn phí và tự nguyện.

Ghi danh hoặc đăng nhập

Thành viên đang online:
Rộng Mở Tâm Hồn Diệu Bảo Rộng Mở Tâm Hồn Nhị Kim Uyên Rộng Mở Tâm Hồn Tánh Không 1965 Rộng Mở Tâm Hồn Phan Huy Triều Rộng Mở Tâm Hồn Minh Pháp Tự Rộng Mở Tâm Hồn Lê Kiên VTV3 Rộng Mở Tâm Hồn lamtrinh Rộng Mở Tâm Hồn Vạn Phúc Rộng Mở Tâm Hồn tony coi Rộng Mở Tâm Hồn Phù Duy Học Rộng Mở Tâm Hồn Nam1956 Rộng Mở Tâm Hồn Viên Hiếu Thành Rộng Mở Tâm Hồn van chương Rộng Mở Tâm Hồn Nguyên Lê Rộng Mở Tâm Hồn Trầm Minh Rộng Mở Tâm Hồn ba tau phu Rộng Mở Tâm Hồn Nguyễn Ngọc Định Rộng Mở Tâm Hồn Minhkhang2110 Rộng Mở Tâm Hồn Ngọc Châu Rộng Mở Tâm Hồn Thích Thện Tâm Rộng Mở Tâm Hồn Huệ Trí 1975 Rộng Mở Tâm Hồn nmtst94 Rộng Mở Tâm Hồn Pascal Bui Rộng Mở Tâm Hồn Bá láp Rộng Mở Tâm Hồn Trương Quang Quý Rộng Mở Tâm Hồn phatthanhle Rộng Mở Tâm Hồn Thích Nguyên Mạnh Rộng Mở Tâm Hồn Phạm thị thu hương Rộng Mở Tâm Hồn Trần Thị Huyền Rộng Mở Tâm Hồn Lê thị Ngọc Phượng Rộng Mở Tâm Hồn Lê Duy Hùng Rộng Mở Tâm Hồn Tri Huynh Rộng Mở Tâm Hồn nguyễn thu hương Rộng Mở Tâm Hồn Vô Thường Violet Rộng Mở Tâm Hồn Nguyễn Ngọc Luật Rộng Mở Tâm Hồn Nguyen thi chau xong Rộng Mở Tâm Hồn HUYNH KIM BINH Rộng Mở Tâm Hồn Van Tran Thu Huyen Rộng Mở Tâm Hồn hehehe88 Rộng Mở Tâm Hồn nguyễn thanh bình ... ...

Việt Nam (1.201 lượt xem) - Trung Hoa (41 lượt xem) - Nhật Bản (25 lượt xem) - Senegal (9 lượt xem) - Ma-cao (8 lượt xem) - Romania (3 lượt xem) - Hoa Kỳ (2 lượt xem) - Australia (2 lượt xem) - Anh quốc (2 lượt xem) - ... ...