Hành động thiếu tri thức là nguy hiểm, tri thức mà không hành động là vô ích. (Action without knowledge is dangerous, knowledge without action is useless. )Walter Evert Myer
Hãy đạt đến thành công bằng vào việc phụng sự người khác, không phải dựa vào phí tổn mà người khác phải trả. (Earn your success based on service to others, not at the expense of others.)H. Jackson Brown, Jr.
Nếu bạn không thích một sự việc, hãy thay đổi nó; nếu không thể thay đổi sự việc, hãy thay đổi cách nghĩ của bạn về nó. (If you don’t like something change it; if you can’t change it, change the way you think about it. )Mary Engelbreit
Bằng bạo lực, bạn có thể giải quyết được một vấn đề, nhưng đồng thời bạn đang gieo các hạt giống bạo lực khác.Đức Đạt-lai Lạt-ma XIV
Nếu người nói nhiều kinh, không hành trì, phóng dật; như kẻ chăn bò người, không phần Sa-môn hạnh.Kinh Pháp cú (Kệ số 19)
Mặc áo cà sa mà không rời bỏ cấu uế, không thành thật khắc kỷ, thà chẳng mặc còn hơn.Kinh Pháp cú (Kệ số 9)
Kẻ yếu ớt không bao giờ có thể tha thứ. Tha thứ là phẩm chất của người mạnh mẽ. (The weak can never forgive. Forgiveness is the attribute of the strong.)Mahatma Gandhi
Khi ăn uống nên xem như dùng thuốc để trị bệnh, dù ngon dù dở cũng chỉ dùng đúng mức, đưa vào thân thể chỉ để khỏi đói khát mà thôi.Kinh Lời dạy cuối cùng
Cỏ làm hại ruộng vườn, sân làm hại người đời. Bố thí người ly sân, do vậy được quả lớn.Kinh Pháp Cú (Kệ số 357)
Vui thay, chúng ta sống, Không hận, giữa hận thù! Giữa những người thù hận, Ta sống, không hận thù!Kinh Pháp Cú (Kệ số 197)

Trang chủ »» Danh mục »» TỦ SÁCH RỘNG MỞ TÂM HỒN »» Bài viết, tiểu luận, truyện ngắn »» Thế gian tự tại »»

Bài viết, tiểu luận, truyện ngắn
»» Thế gian tự tại

(Lượt xem: 579)
Xem trong Thư phòng    Xem định dạng khác    Xem Mục lục 

       

Bài viết, tiểu luận, truyện ngắn - Thế gian tự tại

Font chữ:

Đức Phật kể cho Ngài A Nan nghe, trong quá khứ vô lượng, vô số kiếp không thể nghĩ bàn, có một vị Phật xuất hiện trong thế gian, pháp hiệu của Ngài là Thế Gian Tự Tại Vương Như Lai, Ứng Cúng, Ðẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Ngài ở tại thế gian giáo hóa chúng sanh trong bốn mươi hai kiếp, thường vì chư thiên và loài người mà giảng kinh, nói pháp.

Như Lai, Ứng Cúng, Ðẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật Thế Tôn là mười danh hiệu chung của hết thảy chư Phật. Chư Phật có vô lượng đức nên đức hiệu cũng vô lượng, nhưng vì thuận theo căn cơ chúng sanh nên các kinh chỉ nói giản lược mười đức hiệu.

Pháp thân Phật chẳng từ đâu đến, cũng chẳng đi về đâu, thế mà lại hiện hữu cùng khắp thế giới trong từng mỗi vi trần, trong từng mỗi tâm tưởng của chúng sanh. Từ một Pháp thân mà Phật lại thị hiện vô lượng ứng thân trong cùng khắp thế gian. Phật thường ở trong thế gian, sinh hoạt trong mọi hoàn cảnh vật chất, trong mọi sự quan hệ với gia đình và xả hội như chúng sanh, nhưng Ngài vẫn luôn đạt được sự tự tại tròn đầy, chẳng bị thế gian chướng ngại, nên gọi là Thế Gian Tự Tại Vương Như Lai. Vì sao chư Phật lại có thể tự tại trong thế gian? Bởi vì các Ngài tuy thân sống trong huyễn cảnh, nhưng tâm chẳng trụ vào bất cứ một nơi nào cả mà sanh tâm. Trong pháp nhãn thanh tịnh ấy, các Ngài được huệ nhãn thấy chân. Thế nào là “huệ nhãn thấy chân”? Phật thấy mọi chúng sanh đều là Phật, đều tốt đẹp, cái thấy đó gọi là “huệ nhãn thấy chân.” Do tâm của Phật không trụ nơi nào cả, nên Phật thấy ba nghiệp nơi thân, ngữ và ý của chúng sanh chỉ là những chuyện giởn chơi, giống như những trò huyễn thuật của các nhà ảo sư trên sân khấu, không có gì là thật cả. Do nhờ có huệ nhãn thấy chân như vậy nên Phật không từ các nghiệp của chúng sanh mà sanh tâm mình. Còn phàm chúng ta thì cứ cho mọi vật, mọi hiện tượng xung quanh là thật, nên thường luôn chấp vào lời nói, hành động và ý tưởng của người khác mà sanh tâm mình; do đó chẳng những không được tự tại trong các pháp mà lại còn tự gây cho mình bao thứ phiền não, khổ đau và sân hận. Tiêu biểu là “oán tăng hội khổ;” oán là oan gia trái chủ mà mình chẳng muốn ở chung mà vẫn cứ phải thường gặp gỡ. Oán do đâu mà có? Oán là do yêu mà có! Vì yêu quá mức mà chẳng được đáp trả lại những gì mình mong muốn, nên biến thành oan gia đối đầu. Người đời thường nói: “Thương nhau trái ấu cũng tròn. Ghét nhau bồ hòn cũng méo.” Người ta còn nói: “Hồi thương cho nhau cơm cháy, hồi ghét nói nhau như cạy nồi.” Thoạt đầu, khi chúng ta vừa mới quen biết người đó, cái gì cũng đẹp, cái gì cũng tốt, nên mới sanh lòng ưa thích lẫn nhau, rồi đưa đến chuyện cùng nhau chung sống. Thế nhưng, đến một lúc nào đó tâm ý của ta và họ không còn thuận hòa với nhau nữa, thì cái cảm tình ấy liền biến thành oán hận. Khi sự oán hận sanh khởi rồi thì nó trở thành chủng tử nghiệp tích trử trong A-lai-da thức đời đời kiếp kiếp không mất đi, nên ta và họ trở thành oan gia đối đầu với nhau; thậm chí quyết một mất một còn, sát hại lẫn nhau mới thỏa mãn lòng oán giận, do vậy mà cả hai bên ta và họ đều chẳng thể nào thoát ra khỏi ngục ba cõi. Vì vậy, cổ nhân mới nói: “Ái là giả, oán là thật!”

Đức Phật dạy: “Oan gia nghi giải bất nghi kết,” nghĩa là oan gia nên cởi gỡ, đừng thắt buộc, chớ nên kết oán với bất cứ một ai. Không chỉ chẳng thể kết đại oán, mà những sự khó chịu, bực bội nhỏ nhoi trong lòng cũng không nên có. Vì sao? Bởi có tiểu oán thì sẽ dần dần kết thành đại oán. Vì thế, trong kinh Vô Lượng Thọ, đức Phật mới bảo: “Những việc thế gian rốt gây họa nhau, tuy chưa tới lúc, nên gấp tưởng phá, người nhiễm ái dục, sinh một mình tử một mình, đến đi một mình, khổ vui tự nhận, không ai gánh thay.” Người học Phật đã biết những chuyện trong thế gian đều là huyễn giả, đều là những tuồng kịch diễn ra để coi chơi chớ không có thật, thì tội tình gì mà phải bị nhiễm ái dục để kết hận, gây thù, để rồi trở thành oan gia đối đầu, đời đời kiếp kiếp phải tìm gặp nhau để rửa hận. Đấy chính là nguyên nhân tạo ra luân hồi sanh tử, tự mình phải lãnh chịu khổ báo, chẳng ai gánh thay cho mình được. Vì thế, Phật dạy chúng ta phải thấu rõ những chuyện thế gian đều là hư huyễn, nên lúc sống trong thế gian thì phải giống như các nhà ảo sư giỏi chẳng bị các trò huyễn thuật làm cho bị mê lầm thì mới hòng có được sự tự tại trong thế gian. Lại nữa, chúng ta không thể vượt thoát ra khỏi ngục tam giới đều là do tưởng lầm những chuyện thế gian là có thật, nên sanh lòng tham chấp, gây thù kết oán với quá nhiều oan gia trái chủ mà phải gánh chịu nghiệp báo. Chúng ta đã mang nợ với họ quá nhiều, chưa trả xong, há có chuyện họ để cho chúng ta ra đi một cách tiện nghi hay sao? Nợ của chúng ta với họ quá nhiều, chắc hẳn là chẳng thể trả nổi trong một đời này, nợ này chưa trả xong thì nợ khác lại sanh ra chồng chất thêm nhiều hơn, thì đời đời kiếp kiếp làm sao mà trả cho xong! Vì vậy, chúng ta phải biết: Ái là giả vì nó chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn ngủi rồi biến mất; còn oán mới là thật vì nó cứ mãi theo ta đời đời kiếp kiếp như bóng theo hình chẳng chịu rời bỏ. Thế mới biết, kết oán thật là đáng sợ! Cho nên, chúng ta chớ nên kết oán cừu với bất cứ một ai, dù đó là con vật nhỏ nhất như con giun, con kiến, con muỗi…

Chẳng những không nên kết oán, mà cũng đừng nên kết tình ân ái triền miên với người khác. Nếu chúng ta cho rằng, ái tình tạm bợ trong thế gian có thể đem lại những niềm vui tạm thời lúc còn sống trong thế gian, thì chúng ta thật sự sai lầm, vì sao? Vì tất cả các thứ ái tình đều là giả, đều là nguồn gốc sanh ra tất cả những sự ác và sanh tử khổ đau, càng lún sâu vào trong ái dục càng khó thoát ra. Cho nên, tất cả các thứ tình ái là vô dụng như lời đức Phật răn dạy: “Sang giàu thương muốn không thể bền giữ, đều phải lánh xa, chẳng thể an vui.” Ngày hôm nay, ta và họ yêu thương nhau khôn cùng, hai người kết hôn với nhau. Ngày sau bèn ly hôn, kéo nhau ra tòa ly dị, lại tìm cách sát hại lẫn nhau để toan tính chuyện lợi riêng cho mình. Đấy cũng đủ cho chúng ta thấy, tình yêu trên thế gian này đều là giả tạo, oán mới là thật! Vì vậy, đức Phật bảo chúng ta, trước khi chứng đắc A-la-hán, chớ nên tin vào ý nghĩ của chính mình. Ý nghĩ của chính mình thiên biến vạn hóa, thay đổi liên tục từng mỗi sát na thì đâu phải là thật mà có thể tin tưởng nơi nó chứ! Ý nghĩ của chính mình còn chẳng thể tin tưởng được nổi thì làm sao có thể tin tưởng nổi ý tưởng của người khác? Do vậy, Phật pháp nói tới việc tu hành thì điều thứ nhất đòi hỏi phải biết buông xả thế gian. Buông xả thế gian chính là phát Bồ-đề tâm, bởi vì chỉ có Bồ-đề tâm mới là Chân tâm, mới là cái tâm chân thành vĩnh viễn không thay đổi. Còn vọng tâm thì thường luôn thay đổi, một chút cũng chẳng thật.

Đức Như Lai hiểu rõ, chúng sanh trong thế gian đều là hư tình giả ý, một chút chân tình cũng khó thể tìm được nơi con người trong thế gian, nên cuộc sống trong thế gian mới trở thành quá xấu ác, quá khổ sở, chẳng thể an vui. Tất cả những điều tệ hại trong thế gian đều là do cái hư tình giả ý của con người sanh ra. Người thế gian chẳng có Chân tâm, cũng chẳng có thành ý, tất cả đều là hư tình giả ý, nên cái tình cảm mà con người đối xử với con người và vạn vật đều là giả dối, một chút cũng chẳng thật. Vậy thì đối với ái tình, chúng ta cần gì phải miễn cưỡng, chấp trước, có hay không đều mặc kệ nó, tự tại tùy duyên, chẳng sanh ý mong cầu, cũng chẳng sanh tâm lấy bỏ gì hết ráo thì mới hòng có được một cuộc sống an vui, tự tại thật sự trong thế gian. Do bởi đức Phật đều tùy ý tự tại trong huyễn cảnh của thế gian, nên Ngài được xưng gọi là Thế Gian Tự Tại Vương Như Lai.

Nói đến chân ái, tức là lòng thương yêu thật sự vĩnh viễn không thay đổi thì chỉ có “từ bi” mới là lòng yêu thương thật sự. Còn nếu nói đến chân hạnh phúc thì chỉ có “hỷ xả” mới đem đến cho con người sự an lạc và niềm thương yêu hạnh phúc chân thật! Nói theo đạo Phật là “trong cửa nhà Phật, chẳng bỏ một ai;” đó mới chính thật là từ bi hỷ xả, là sự an lạc và niềm thương yêu hạnh phúc thật sự! Do có Phật nhãn nên chư Phật trông thấy rõ ràng, rành rẽ cảnh giới của chúng sanh một các tự tại vô ngại, chúng sanh vừa khởi tâm động niệm thì các Ngài liền thấy biết ngay, nên chư Phật có thể độ chúng sanh trong bất cứ đường nào và dưới mọi tình huống nào. Vì thế, chúng ta chỉ cần chân thành cung kính, thật sự giác ngộ, thật sự xả giả nhập thật và thật sự tin tưởng Phật, chẳng sanh tâm hư ngụy, dối trá, cong queo, thì lúc cần đến chư Phật, các Ngài liền tới giúp đỡ chúng ta, cảm ứng đạo giao tuyệt đối chẳng luống qua! Cảnh giới này mỗi người tu hành đều phải tự mình chứng nghiệm, ví như ai ăn thì tự mình biết no, ai uống nước thì tự mình hết khát.

Hiện nay, chúng ta sống trong tình cảnh quá sức loạn động và khổ sở, tai nạn dồn dập và sự đấu tranh kiên cố xảy ra khắp mọi nơi từ trong gia đình cho đến ngoài thế giới, ngay cả trong Phật đường cũng chẳng ngoại lệ. Thế mà chúng ta lại yêu cầu Phật, Bồ-tát tới cứu độ thì làm sao có thể được. Chúng ta cầu hoài, cầu mãi mà chẳng thấy Phật, Bồ-tát đến cứu thì phải biết tự hỏi: Lý do gì mà các Ngài không đến cứu giúp chúng ta như các kinh đã nói? Nguyên nhân là vì Phật, Bồ-tát thấy rất rõ ràng cái tâm địa giả trật, hư dối của chúng ta nên cái miệng của chúng ta phát ra cũng toàn là vọng ngữ. Ngay đối trước mặt chư Phật, Bồ-tát mà chúng ta còn dám hư tình giả ý, thì đối với chúng sanh làm sao chúng ta có thể chân thành cung kính cho được chứ! Chúng ta hãy làm thí nghiệm ngay trong cuộc sống hằng ngày của mình thử xem, nếu chúng ta đem tâm thanh tịnh bình đẳng, chân thành cung kính nhất của mình đối xử với mọi người thì sẽ thấy cảnh giới của mình sẽ thay đổi tốt đẹp như thế nào? Đó đều là do nhờ vào sự gia trì của chư Phật, Bồ-tát nên chúng ta mới có thể thay đổi cảnh giới, tức là chúng ta hóa giải được nghiệp chướng ngay trong một niệm chân thành cung kính của chính mình. Ngay cả việc cầu vãng sanh cũng vậy, chúng ta thử hỏi lại chính mình xem, cái nguyện vãng sanh đó là thật hay giả? Có người lúc bị bệnh khổ bức bách quá sức, nên muốn vãng sanh càng nhanh càng tốt, nhưng đến khi sức khỏe vừa mới hồi phục được chút ít thì liền thối thất việc vãng sanh. Người xuất gia thì nói: “Không được! Tôi không thể chết được, tôi còn có Phật sự chưa làm xong,” còn người tại gia thì bảo: “Không được! Tôi không thể chết được, tôi còn có chuyện gia đình, con cái và sự nghiệp chưa lo xong.” Vậy, chúng ta suy nghĩ lại xem, cái tâm nguyện vãng sanh đó là cái tâm gì đây? Người chưa chịu xuất ly thế gian, chưa chịu quyết định ra đi bất cứ lúc nào đã chỉ rõ cái tâm cầu vãng sanh của họ chẳng phải là thật sự, đều là hư tình giả ý, đều là còn tham luyến danh lợi và tình ái thế gian. Ngược lại, người thật sự giác ngộ thì dù họ đang sống trong thuận cảnh, sức khỏe, tiền tài, danh vọng, tình yêu chẳng thiếu thứ gì, nhưng họ vẫn cứ ngày đêm không ngừng cầu cho mau chóng xả bỏ cái thân giả hợp này để sớm vãng sanh Cực Lạc. Vì sao họ lại có được cái tâm quyết kiên định như vậy? Bởi vì họ biết rõ, những thứ phước báu họ đang có đều là vô thường, đều là giả hợp, “có” chính là cái nhân của “mất;” nên nếu còn ở lại thế gian một ngày là còn một ngày thọ khổ, là còn một ngày tạo nghiệp, là còn một ngày thối chuyển Bồ-đề tâm, chứ chẳng mang lợi ích chân thật gì cho mình và người khác cả. Ngay cả Phật pháp mà mình đang tu học bất quá cũng chỉ Phật pháp hữu lậu thế gian, chớ nào phải là Phật pháp vô lậu xuất ly thế gian đâu, thì làm sao có được lợi ích chân thật chứ!

Kinh Phật thường nói: “Phật thị môn trung hữu cầu tất ứng,” tức là nếu chúng ta phát ra được cái tâm chân thật thì Phật, Bồ-tát liền đến cứu giúp chúng ta. Nếu chúng ta còn có nhiệm vụ ở cõi này để giáo hóa chúng sanh thì các Ngài sẽ cho chúng ta biết để chúng ta an tâm mà ở lại cõi này làm Phật sự. Lúc ấy, chúng ta sẽ có thể an toàn ở lại cõi này làm Phật sự với sự gia trì, che chở, ủng hộ và chỉ dạy của Phật, Bồ-tát. Đấy mới thật sự là “Phật thị môn trung hữu cầu tất ứng.” Chúng ta thấy đó, Hòa thượng Hải Hiền là một chứng minh cụ thể, trong khi nhân duyên vãng sanh của Hòa thượng đã chín muồi, đã nhiều lần thấy thánh tướng của A Di Đà Phật hiện ra đích thân thọ ký vãng sanh, nhưng lại yêu cầu Hòa thượng vì lợi ích cho chúng sanh mà trụ thế lâu hơn. Không phải chỉ có Hòa thượng Hải Hiền mà còn có rất nhiều người xuất gia và tại gia cũng tha thiết muốn mau chóng vãng sanh; nhưng vì họ có nhân duyên cứu độ chúng sanh, nên Phật yêu cầu họ ở lại thế gian lâu hơn, chưa thể tiếp dẫn họ vãng sanh được, chớ nào phải họ còn lưu luyến cảnh trần lao hư giả của thế gian này đâu. Những người này họ ở lại thế gian để làm lợi ích cho chúng sanh mà chẳng hề tạo nghiệp; còn chúng ta thì khác với họ, chúng ta ở lại đây là để tạo nghiệp, chớ chẳng thật sự làm lợi ích cho người khác. Vì sao? Vì người thế gian chúng ta thường luôn khởi tâm động niệm mà chính mình cũng chẳng biết, chúng ta làm Phật sự bằng vọng tâm chớ chẳng phải Bồ-đề tâm, nên phần lớn những chuyện thiện mà chúng ta làm ra lại biến thành ma nghiệp. Chư Phật, Bồ-tát đều biết rõ ràng rành rẽ cái hư tình giả ý của chúng ta, nên chúng ta ở trong Phật pháp cầu mãi mà chẳng được gì hết ráo. Chúng ta chỉ cần chuyển vọng tâm thành Chân tâm, tức là chỉ cần thành tâm thành ý khởi lên một ý niệm chân chánh, thì dù chúng ta chưa cầu, Phật, Bồ tát liền đến để khai thị cho chúng ta biết rõ nhân duyên vãng sanh của mình. Còn nếu như chúng ta cứ mãi dùng vọng tâm để cầu thì chẳng bao giờ được thấy các Ngài đến cứu giúp, huống chi là đến tiếp dẫn về Thế giới Cực Lạc. Đó chẳng phải là Phật, Bồ-tát không linh ứng, mà là do chúng ta dùng cái tâm hư ngụy để cầu thì làm sao có cảm ứng đạo giao được với Phật, Bồ-tát chứ!

Thời gian của chúng ta ở trên thế gian này không dài, dẫu sống đến một trăm năm vẫn chỉ là một sát-na thoáng qua; cho nên, đối với mọi sự, mọi việc trong thế gian, chúng ta đều phải tự tại, tùy duyên, nhẫn nại một chút là được rồi, thua thiệt một chút cũng chẳng sao, chẳng cần phải xử sự cứng ngắc, cũng chớ nên so đo, thì mọi sự tốt đẹp sẽ có lúc hiện ra đúng như sở nguyện của mình. Đấy chính là người biết sống tự tại trong thế gian, biết tùy duyên bất biến, biết ứng hợp với Phật tâm mà kinh Vô Lượng Thọ biểu tượng qua danh hiệu “Thế Gian Tự Tại Vương Như Lai.”

    « Xem chương trước «      « Sách này có 843 chương »       » Xem chương tiếp theo »
» Tải file Word về máy » - In chương sách này

Quý vị đang truy cập từ IP 3.80.4.76 và chưa ghi danh hoặc đăng nhập trên máy tính này. Nếu là thành viên, quý vị chỉ cần đăng nhập một lần duy nhất trên thiết bị truy cập, bằng email và mật khẩu đã chọn.
Chúng tôi khuyến khích việc ghi danh thành viên ,để thuận tiện trong việc chia sẻ thông tin, chia sẻ kinh nghiệm sống giữa các thành viên, đồng thời quý vị cũng sẽ nhận được sự hỗ trợ kỹ thuật từ Ban Quản Trị trong quá trình sử dụng website này.
Việc ghi danh là hoàn toàn miễn phí và tự nguyện.

Ghi danh hoặc đăng nhập

Thành viên đang online:
Rộng Mở Tâm Hồn VĨNH HỮU Rộng Mở Tâm Hồn Tâm bồ đề Rộng Mở Tâm Hồn Phạm Thiên Rộng Mở Tâm Hồn Nguyễn Tiến Rộng Mở Tâm Hồn DrTTV Rộng Mở Tâm Hồn NGUYỄN TRỌNG TÀI Rộng Mở Tâm Hồn van chương Rộng Mở Tâm Hồn Yogi Rộng Mở Tâm Hồn Thích Quán Triệt Rộng Mở Tâm Hồn Hộ Chánh Rộng Mở Tâm Hồn Hồ Dinh Rộng Mở Tâm Hồn Xuân Thôn Rộng Mở Tâm Hồn mabu99x Rộng Mở Tâm Hồn Thich Nu Tam Hiep Rộng Mở Tâm Hồn ngtieudao Rộng Mở Tâm Hồn Trần Thị Huyền Rộng Mở Tâm Hồn Thiện Diệu Rộng Mở Tâm Hồn Vân lê thị Rộng Mở Tâm Hồn thuhienmiku372004 Rộng Mở Tâm Hồn Thich Nguyên Thiện Rộng Mở Tâm Hồn nmtst94 Rộng Mở Tâm Hồn Tuệ Anh Rộng Mở Tâm Hồn HaoNguyen Rộng Mở Tâm Hồn Trần Bình Rộng Mở Tâm Hồn Thánh Phát Rộng Mở Tâm Hồn Le Hoang Khiem Rộng Mở Tâm Hồn Vũ Xuân Nam Rộng Mở Tâm Hồn Tâm Nhiên Rộng Mở Tâm Hồn Yên Bình Rộng Mở Tâm Hồn Riverholy Rộng Mở Tâm Hồn phamca Rộng Mở Tâm Hồn TNHH Rộng Mở Tâm Hồn Quang Rộng Mở Tâm Hồn Yduongvan Rộng Mở Tâm Hồn Pháp Danh TRÍ BÌNH Rộng Mở Tâm Hồn Blitz Rộng Mở Tâm Hồn Khiêm Nhẫn Rộng Mở Tâm Hồn ba tau phu Rộng Mở Tâm Hồn Quoc Cuong Rộng Mở Tâm Hồn ngoc thach nguyên ... ...

Hoa Kỳ (7.888 lượt xem) - Việt Nam (7.411 lượt xem) - Australia (52 lượt xem) - Đức quốc (32 lượt xem) - Central African Republic (17 lượt xem) - Palau (14 lượt xem) - Pháp quốc (12 lượt xem) - Ấn Độ (5 lượt xem) - Thái Lan (3 lượt xem) - Nga (2 lượt xem) - Greece (1 lượt xem) - ... ...