Con tôi, tài sản tôi; người ngu sinh ưu não. Tự ta ta không có, con đâu tài sản đâu?Kinh Pháp Cú (Kệ số 62)
Chớ khinh thường việc ác nhỏ mà làm; đốm lửa nhỏ có thể thiêu cháy cả núi rừng làng mạc. Chớ chê bỏ việc thiện nhỏ mà không làm, như giọt nước nhỏ lâu ngày cũng làm đầy chum vại lớn.Lời Phật dạy
Muôn việc thiện chưa đủ, một việc ác đã quá thừa.Tủ sách Rộng Mở Tâm Hồn
Nếu chuyên cần tinh tấn thì không có việc chi là khó. Ví như dòng nước nhỏ mà chảy mãi thì cũng làm mòn được hòn đá.Kinh Lời dạy cuối cùng
Người ta trói buộc với vợ con, nhà cửa còn hơn cả sự giam cầm nơi lao ngục. Lao ngục còn có hạn kỳ được thả ra, vợ con chẳng thể có lấy một chốc lát xa lìa.Kinh Bốn mươi hai chương
Nếu muốn người khác được hạnh phúc, hãy thực tập từ bi. Nếu muốn chính mình được hạnh phúc, hãy thực tập từ bi.Đức Đạt-lai Lạt-ma XIV
Nếu bạn không thích một sự việc, hãy thay đổi nó; nếu không thể thay đổi sự việc, hãy thay đổi cách nghĩ của bạn về nó. (If you don’t like something change it; if you can’t change it, change the way you think about it. )Mary Engelbreit
Đừng làm cho người khác những gì mà bạn sẽ tức giận nếu họ làm với bạn. (Do not do to others what angers you if done to you by others. )Socrates
Tinh cần giữa phóng dật, tỉnh thức giữa quần mê.Người trí như ngựa phi, bỏ sau con ngựa hèn.Kính Pháp Cú (Kệ số 29)
Khi tự tin vào chính mình, chúng ta có được bí quyết đầu tiên của sự thành công. (When we believe in ourselves we have the first secret of success. )Norman Vincent Peale

Trang chủ »» Danh mục »» TỦ SÁCH RỘNG MỞ TÂM HỒN »» Nghệ thuật sống - Pháp thiền do Thiền sư S. N. Goenka giảng dạy »» Xem đối chiếu Anh Việt: Lời nói đầu »»

Nghệ thuật sống - Pháp thiền do Thiền sư S. N. Goenka giảng dạy
»» Xem đối chiếu Anh Việt: Lời nói đầu

(Lượt xem: 30.210)
Xem trong Thư phòng    Xem định dạng khác    Xem Mục lục  Vietnamese || English || Tải về bảng song ngữ


       

Điều chỉnh font chữ:

Lời nói đầu

FOREWORD





Trí tuệ là điểm chính
vì vậy hãy cố đạt được trí tuệ;
thì bạn sẽ hiểu được mọi điều.
Proverbs, iv. 7 (KJV)
 
Lời nói đầu
Tôi sẽ mãi mãi biết ơn pháp Thiền Vipassana đã thay đổi cuộc đời tôi. Khi mới bắt đầu học phương pháp Thiền này, tôi có cảm giác như từ trước nay mình đã loanh quanh trong chằng chịt những ngõ cụt và cuối cùng giờ đây đã tìm được một con đường bằng phẳng thẳng tiến. Nhiều năm sau đó tôi vẫn tiếp tục con đường này, và sau mỗi bước đi, mục tiêu càng thêm sáng tỏ hơn: giải thoát khỏi mọi khổ đau và toàn giác. Tôi không thể tuyên bố mình đã tới đích cuối cùng, nhưng tôi tin chắc rằng con đường này sẽ dẫn thẳng tới đó.
I am forever grateful for the change that Vipassana meditation has wrought in my life. When I first learned this technique I felt as though I had been wandering in a maze of blind alleys and now at last had found the royal road. In the years since then I have kept following this road, and with every step the goal has become clearer: liberation from all suffering, full enlightenment. I cannot claim to have reached the final goal, but I have no doubt that this way leads directly there.
Tôi mang ơn Sayagyi U Ba Khin và một dòng các thiền sư đã giữ gìn kỹ thuật này sống còn hàng ngàn năm kể từ thời Đức Phật. Nhân danh họ, tôi khuyến khích nhiều người khác theo con đường này để họ cũng có thể tìm được lối thoát khỏi khổ đau.
For showing me this way I am always indebted to Sayagyi U Ba Khin and to the chain of teachers who kept the technique alive through millennia from the time of the Buddha. On behalf of them all I encourage others to take this road, so that they also may find the way out of suffering.
Mặc dầu hàng ngàn người từ các quốc gia Tây phương đã học Vipassana nhưng cho đến nay chưa có một cuốn sách nào viết về phương pháp thiền này một cách chính xác. Tôi rất vui mừng thấy bây giờ đã có một thiền giả nghiêm chỉnh nhận lãnh công việc này.
Although many thousands of people from Western countries have learned it, up to now no book has appeared that accurately describes this form of Vipassana at length. I am pleased that at last a serious meditator has undertaken to fill this gap.
Mong rằng qua cuốn sách này các Thiền sinh Vipassana sẽ hiểu nhiều hơn, và nhiều người khác sẽ thử kỹ thuật này để có thể kinh nghiệm được hạnh phúc của sự giải thoát.
May this book deepen the understanding of those who practice Vipassana meditation, and may it encourage others to try this technique so that they too may experience the happiness of liberation.
Mong rằng tất cả người đọc sẽ học được nghệ thuật sống để tìm sự bình an và hòa hợp nội tâm và tạo sự bình an, hòa hợp cho người khác.
May every reader learn the art of living in order to find peace and harmony within and to generate peace and harmony for others.
Nguyện cho mọi chúng sanh đều hạnh phúc!
May all beings be happy!
S. N. GOENKA
Bombay
Tháng 4, năm 1986.
S. N. GOENKA
Bombay: April 1986

Tựa

PREFACE
Trong nhiều loại thiền trên thế giới ngày nay, phương pháp Vipassana do Thiền sư S. N. Goenka dạy là độc nhất vô nhị. Kỹ thuật đơn giản và hợp lý này dẫn tới sự bình an thật sự cho tâm hồn và một đời sống hạnh phúc, hữu ích. Đã được giữ gìn từ lâu trong cộng đồng Phật giáo Miến Điện, Vipassana không có tính chất giáo phái, bất cứ người nào cũng có thể chấp nhận và áp dụng.
Among the various types of meditation in the world today, the Vipassana method taught by S. N. Goenka is unique. This technique is a simple, logical way to achieve real peace of mind and to lead a happy, useful life. Long preserved within the Buddhist community in Burma, Vipassana itself contains nothing of a sectarian nature, and can be accepted and applied by people of any background.
Thiền sư S. N. Goenka là một kỹ nghệ gia hồi hưu, một cựu lãnh tụ của cộng đồng Ấn ở Miến Điện. Sinh trưởng trong một gia đình theo Ấn Độ giáo (Hindu) bảo thủ, từ thuở thiếu thời ông đã bị những cơn đau nửa đầu nghiêm trọng. Việc tìm cách trị bệnh đã dẫn dắt ông đến gặp Sayagyi U Ba Khin năm 1955, một công chức cao cấp trong chính phủ đồng thời cũng là một thiền sư. Học Vipassana từ U Ba Khin, ông Goenka đã tìm thấy một phương pháp vượt hơn cả việc làm giảm nhẹ triệu chứng bệnh tật thể chất đồng thời cũng vượt qua cả những rào cản văn hóa và tôn giáo. Vipassana dần dần chuyển hóa cuộc đời ông trong những năm thực hành và nghiên cứu dưới sự dẫn dắt của thầy.
S. N. Goenka is a retired industrialist, and a former leader of the Indian community in Burma. Born into a conservative Hindu family, he suffered from youth onward from severe migraine headaches. His search for a cure brought him into contact in 1955 with Sayagyi U Ba Khin, who combined the public role of a senior civil servant with the private role of a teacher of meditation. In learning Vipassana from U Ba Khin, Mr. Goenka found a discipline that went far beyond alleviating the symptoms of physical disease and transcended cultural and religious barriers. Vipassana gradually transformed his life in the ensuing years of practice and study under the guidance of his teacher.
Năm 1969, ông được U Ba Khin cho phép dạy thiền. Trong cùng năm ông về Ấn Độ và bắt đầu dạy Vipassana ở đây, giới thiệu lại kỹ thuật này ở nơi đã khai sinh ra nó. Trong một đất nước còn bị chia rẽ trầm trọng bởi giai cấp và tôn giáo, những khóa học của ông Goenka đã lôi cuốn được hàng ngàn người ở mọi tầng lớp. Hàng ngàn người phương Tây cũng đã tham dự những khóa thiền Vipassana vì bị thu hút bởi tính chất thực tiễn của kỹ thuật này.
In 1969 Mr. Goenka was authorized as a teacher of Vipassana meditation by U Ba Khin. In that year he came to India and began teaching Vipassana there, reintroducing this technique into the land of its origin. In a country still sharply divided by caste and religion, Mr. Goenka’s courses have attracted thousands of people of every background. Thousands of Westerners have also participated in Vipassana courses, attracted by the practical nature of the technique.
Những phẩm tính của Vipassana đã được chính ông Goenka nêu gương minh họa trong đời sống. Ông là người thực tế, tiếp xúc với thực tiễn cuộc sống hằng ngày và có thể ứng xử một cách bén nhạy, nhưng trong mọi tình huống ông đều giữ được sự bình tâm phi thường. Cùng với sự bình tâm là lòng thương yêu sâu xa đối với người khác, một khả năng cảm thông hầu như với bất cứ người nào. Tuy nhiên ông không quá nghiêm túc đạo mạo; ông có nét hài hước duyên dáng thường biểu lộ trong những lúc giảng dạy. Những người theo học còn nhớ mãi những nụ cười, những tràng cười lớn và câu châm ngôn ông thường lặp lại nhiều lần: “Hãy hạnh phúc!” Rõ ràng Vipassana đã mang hạnh phúc đến cho ông, và ông nhiệt tình muốn chia sẻ hạnh phúc đó với người khác bằng cách chỉ cho họ kỹ thuật đã vô cùng hiệu quả với ông.
The qualities of Vipassana are exemplified by Mr. Goenka himself. He is a pragmatic person, in touch with the ordinary realities of life and able to deal with them incisively, but in every situation he maintains an extraordinary calmness of mind. Along with that calmness is a deep compassion for others, an ability to empathize with virtually any human being. There is, however, nothing solemn about him. He has an engaging sense of humor which he exercises in his teaching. Course participants long remember his smile, his laughter, and his often-repeated motto, “Be happy!” Clearly Vipassana has brought him happiness, and he is eager to share that happiness with others by showing them the technique that has worked so well for him.
Bất chấp sự cuốn hút của mình, ông Goenka không muốn trở thành một đạo sư (guru) biến đệ tử của mình thành người máy. Trái lại, ông dạy họ phải tự nhận trách nhiệm. Ông nói, sự thử thách thật sự của Vipassana là áp dụng nó trong đời sống. Ông khuyến khích thiền sinh đừng sùng bái theo chân ông mà hãy ra đi và sống hạnh phúc giữa cuộc đời. Ông né tránh mọi biểu hiện sùng bái đối với ông, và hướng dẫn thiền sinh hãy tận tụy hết lòng với phương pháp, với sự thật mà họ tìm thấy trong chính họ.
Despite his magnetic presence, Mr. Goenka has no wish to be a guru who turns his disciples into automatons. Instead he teaches self-responsibility. The real test of Vipassana, he says, is applying it in life. He encourages meditators not to sit at his feet, but to go out and live happily in the world. He shuns all expressions of devotion to him, instead directing his students to be devoted to the technique, to the truth that they find within themselves.
Ở Miến Điện, theo truyền thống chỉ có các vị tu sĩ Phật giáo được đặc quyền dạy thiền. Tuy nhiên, cũng giống như thầy mình, ông Goenka là cư sĩ và làm chủ một gia đình lớn, nhưng chính sự dễ hiểu của những gì ông dạy và hiệu quả của kỹ thuật thiền này đã giành được sự chấp thuận từ các vị sư trưởng lão ở Miến Điện, Ấn Độ và Sri Lanka, và một số trong các vị này cũng tham dự những khóa thiền dưới sự hướng dẫn của ông.
In Burma it has traditionally been the prerogative of Buddhist monks to teach meditation. Like his teacher, however, Mr. Goenka is a layman and is the head of a large family. Nevertheless, the clarity of his teaching and the efficacy of the technique itself have won the approval of senior monks in Burma, India, and Sri Lanka, a number of whom have taken courses under his guidance.
Để duy trì sự thuần khiết, ông Goenka nhấn mạnh, thiền không bao giờ được thương mại hóa. Các khóa thiền và trung tâm dưới sự hướng dẫn của ông đều đặt trên căn bản bất vụ lợi. Ông và những thiền sư phụ tá (những người được ông cho phép thay ông giảng dạy trong các khóa thiền) không nhận thù lao nào dù trực tiếp hay gián tiếp. Ông truyền bá kỹ thuật Vipassana như một công việc phụng sự cho nhân loại, để giúp những người cần được giúp.
To maintain its purity, Mr. Goenka insists, meditation must never become a business. Courses and centers operating under his direction are all run on a totally nonprofit basis. He himself receives no remuneration for his work directly or indirectly, nor do the assistant teachers whom he has authorized to teach courses as his representatives. He distributes the technique of Vipassana purely as a service to humanity, to help those who are in need of help.
S. N. Goenka là một trong số ít các nhà lãnh đạo tinh thần Ấn Độ được kính trọng ở Ấn cũng như ở phương Tây. Tuy nhiên ông không bao giờ tìm cách quảng cáo pháp Thiền Vipassana mà thích nhờ vào sự truyền miệng hơn. Ông luôn luôn nhấn mạnh vào tầm quan trọng của sự hành thiền hơn là chỉ viết về thiền. Vì lý do này, ít người biết đến ông hơn so với mức độ mà ông xứng đáng có được. Đây là quyển sách đầu tiên nghiên cứu đầy đủ về sự giảng dạy của ông, được soạn thảo dưới sự chỉ dẫn của ông và được ông chấp thuận.
S. N. Goenka is one of the few Indian spiritual leaders as highly respected in India as in the West. However, he has never sought publicity, preferring to rely on word of mouth to spread interest in Vipassana; and he has always emphasized the importance of actual meditation practice over mere writings about meditation. For these reasons he is less widely known than he deserves to be. This book is the first full-length study of his teaching prepared under his guidance and with his approval.
Nguồn tài liệu chính cho cuốn sách này là những bài giảng của ông Goenka trong khóa thiền Vipassana mười ngày và ở mức độ ít hơn là một số bài viết bằng tiếng Anh của ông. Tôi đã sử dụng những tài liệu này một cách không hạn chế, không chỉ mượn cách lý luận hay sắp xếp các vấn đề cụ thể, mà còn mượn cả những thí dụ trong bài giảng, và thường xuyên là ghi lại cách dùng chữ của ông, thậm chí sử dụng nguyên câu. Đối với những người đã tham dự lớp thiền do ông dạy, chắc chắn sẽ thấy phần lớn cuốn sách này đều quen thuộc, và họ thậm chí có thể xác định được bài giảng hay bài viết nào đã được sử dụng ở phần nào đó trong sách.
The principal source materials for this work are the discourses given by Mr. Goenka during a ten-day Vipassana course and, to a lesser extent, his written articles in English. I have used these materials freely, borrowing not only lines of argument and organization of specific points, but also examples given in the discourses, and frequently exact wording, even entire sentences. To those who have participated in Vipassana meditation courses as taught by him, much of this book will certainly be familiar, and they may even be able to identify the particular discourse or article that has been used at a certain point in the text.
Trong khóa học, những bài giảng của thầy được đưa ra tương ứng với từng bước thực nghiệm của thiền sinh khi hành thiền. Ở đây, các bài giảng ấy được sắp xếp lại cho thuận lợi hơn với một đối tượng khác, những người chỉ đọc về thiền mà không nhất thiết đã từng thực hành. Đối với những độc giả này, chúng tôi cố gắng trình bày bài giảng chính xác như đã thực sự được áp dụng: một tiến trình hợp lý liên tục từ bước đầu đến bước cuối. Tiến trình trọn vẹn này đối với thiền sinh thì rất rõ ràng, nhưng tác phẩm này cố gắng cung cấp cho những người không hành thiền một cái nhìn tổng quát về những nội dung giảng dạy đúng như chúng được trình bày với những người thực hành.
During a course, the explanations of the teacher are accompanied step by step by the experience of the participants in meditation. Here the material has been reorganized for the benefit of a different audience, people who are merely reading about meditation without necessarily having practised it. For such readers an attempt has been made to present the teaching as it is actually experienced: a logical progression flowing unbroken from the first step to the final goal. That organic wholeness is most easily apparent to the meditator, but this work tries to provide non-meditators with a glimpse of the teaching as it unfolds to one who practises it.
Có những phần trong sách được cố ý giữ nguyên cách nói của ông Goenka để có thể truyền đạt một cách sống động hơn cách giảng dạy của ông. Những phần này là những câu chuyện xen giữa các chương sách và những đoạn vấn đáp ở cuối chương, ghi lại từ các cuộc thảo luận thực sự trong khóa thiền hay những cuộc hỏi đáp riêng. Một vài chuyện được rút từ những sự kiện trong đời Đức Phật, một số khác là từ di sản cổ tích phong phú của Ấn Độ, và một số khác nữa từ kinh nghiệm riêng của ông Goenka. Tất cả đều dùng chính lời ông, không phải với ý định làm cho nguyên tác hay hơn, nhưng chỉ để trình bày câu chuyện theo cách mới mẻ, nhấn mạnh sự liên quan của câu chuyện đến việc hành thiền. Những chuyện này làm giảm nhẹ đi không khí trang nghiêm của khóa thiền Vipassana và tạo hứng khởi bằng cách minh họa những điểm chính của giáo huấn dưới hình thức dễ nhớ. Rất nhiều những câu chuyện như vậy đã được kể trong một khóa thiền 10 ngày, nhưng chỉ một số được chọn đưa vào đây.
Certain sections deliberately preserve the tone of the spoken word in order to convey a more vivid impression of the way in which Mr. Goenka teaches. These sections are the stories set between the chapters and the questions and answers that conclude each chapter, dialogues taken from actual discussions with students during a course or in private interviews. Some of the stories are drawn from events in the life of the Buddha, others from the rich Indian heritage of folk tales, and others still from the personal experiences of Mr. Goenka. All are narrated in his own words, not with the intention of improving on the originals but simply to present the stories in a fresh way, emphasizing their relevance to the practice of meditation. These stories lighten the serious atmosphere of a Vipassana course and offer inspiration by illustrating central points of the teaching in memorable form. Of the many such stories told in a ten-day course, only a small selection has been included here.
Những trích dẫn được lấy từ những văn bản kinh điển cổ xưa nhất và được chấp nhận rộng rãi nhất: Kinh tạng (Pitaka Sutta) viết bằng chữ Pāli cổ xưa được bảo tồn ở các quốc gia theo Phật giáo Theravada. Để giữ sự thống nhất trong cả cuốn sách, tôi đã cố gắng dịch mới tất cả những đoạn được trích, có tham khảo theo bản dịch của những dịch giả hàng đầu hiện nay. Tuy nhiên, vì đây không phải là một công trình học thuật, nên tôi không cố dịch chính xác theo từng chữ từ văn bản Pāli, mà chỉ cố gắng diễn đạt ý nghĩa của đoạn văn bằng một ngôn từ thật dễ hiểu đối với thiền sinh Vipassana dưới ánh sáng kinh nghiệm thiền của họ. Có thể sự chuyển dịch một số từ ngữ hay đoạn văn dường như không theo chuẩn mực chính thống, nhưng tôi hy vọng về mặt ý nghĩa thì bản Anh ngữ luôn bám sát được ngữ nghĩa chính xác nhất của nguyên bản.
Quotations are from the oldest and most widely accepted record of the Buddha's words, the Discourse Collection (Sutta Piṭaka), as it has been preserved in the ancient Pāli language in Theravadin Buddhist countries. To maintain a uniform tone throughout the book, I have attempted to translate afresh all the passages quoted here. In doing so I have taken guidance from the work of leading modern translators. However, since this is not a scholarly work, I have not striven to achieve word-for-word accuracy in translating the Pāli. Instead I have tried to convey in straightforward language the sense of each passage as it appears to a Vipassana meditator in the light of his meditation experience. Perhaps the rendering of certain words or passages may seem unorthodox, but in matters of substance, I hope, the English follows the most literal meaning of the original texts.
Để được nhất quán và chuẩn xác, những thuật ngữ Phật học dùng trong sách này được ghi bằng tiếng Pāli, dù trong vài trường hợp tiếng Sankrit có thể quen thuộc với độc giả Anh ngữ hơn. Thí dụ chữ Pāli dhamma được dùng thay vì chữ Sanskrit dharma, kamma thay cho karma, nibbāna thay nirvāna, saṅkhāra thay saṃskāra. Để dễ hiểu hơn, những chữ Pāli khi dùng ở số nhiều sẽ được thêm chữ s theo văn phạm Anh. Nói chung những chữ Pāli dùng trong sách được giới hạn tới mức tối thiểu để tránh sự tối nghĩa không cần thiết. Tuy nhiên, chúng thường tiện lợi để diễn tả gọn gàng những khái niệm không quen thuộc với tư tưởng phương Tây, không dễ dàng diễn tả bằng một chữ trong Anh ngữ. Vì lý do này, có những nơi việc dùng chữ Pāli có vẻ như tốt hơn so với một cụm từ tiếng Anh dài dòng. Tất cả những chữ Pāli được in đậm [trong bản tiếng Anh] đều được định nghĩa trong phần chú giải ở cuối sách.
For the sake of consistency and precision, Buddhist terms used in the text have been given in their Pāli forms even though in some cases the Sanskrit may be more familiar to readers of English. For example, the Pāli dhamma is used in place of the Sanskrit dharma, kamma instead of karma, nibbāna instead of nirvāṇa, saṅkhāra instead of saṃskāra. To make the text easier to understand, Pāli words have been pluralized in English style, by adding s. In general, Pāli words in the text have been kept to a minimum to avoid unnecessary obscurity. However, they often offer a convenient shorthand for certain concepts unfamiliar to Western thought which cannot easily be expressed in a single word in English. For this reason, at points it has seemed preferable to use the Pāli rather than a longer English phrase. All Pāli forms printed in boldface type are defined in the glossary at the back of this book.
Kỹ thuật Vipassana mang lại lợi ích đồng đều cho tất cả mọi người tập, không phân biệt nòi giống, giai cấp, nam nữ. Để trung thành với tiêu chuẩn này, tôi tránh dùng danh từ chỉ tính phái trong sách. Ở một vài chỗ tôi dùng chữ “he” để chỉ thiền sinh nói chung. Xin độc giả hiểu rằng cách dùng này không có ý phân biệt nam nữ. Chúng tôi không có ý định chỉ nói đến phái nam mà gạt phái nữ ra ngoài, vì điều đó trái với sự giảng dạy và tinh thần của Vipassana.
The technique of Vipassana offers equal benefits to all who practice it, without any discrimination on the basis of race, class, or sex. In order to remain faithful to this universal approach, I have tried to avoid using sexually exclusive language in the text. At points, however, I have used the pronoun “he” to refer to a meditator of unspecified gender. Readers are asked to consider the usage as sexually indeterminate. There is no intention of excluding women or giving undue prominence to men, since such a partiality would be contrary to the basic teaching and spirit of Vipassana.
Tôi xin cám ơn rất nhiều người đã giúp đỡ trong công trình này. Đặc biệt xin cảm ơn sâu xa ông Goenka, mặc dầu bận rộn, đã dành thì giờ để xem xét tác phẩm trong khi đang tiến hành và hơn thế nữa là đã dẫn dắt tôi trên con đường đạo được diễn tả trong sách.
I am grateful to the many who helped on this project. In particular, I wish to express my deep gratitude to S. N. Goenka for taking time from his busy schedule to look over the work as it developed, and even more for guiding me to take a few beginning steps on the path described here.
Trên bình diện sâu xa hơn, tác giả thật sự của cuốn sách này là S. N. Goenka, vì mục đích của tôi chỉ là trình bày sự truyền bá giáo huấn của Đức Phật qua phương pháp của ông. Công quả của tác phẩm này thuộc về ông, còn những gì thiếu sót tôi xin chịu trách nhiệm.
In a deeper sense, the true author of this work is S. N. Goenka, since my purpose is simply to present his transmission of the teaching of the Buddha. The merits of this work belong to him. Whatever defects exist are my own responsibility.
William Hart
William Hart

« Sách này có 14 chương »       » Xem chương tiếp theo »
» Tải file Word về máy » - In chương sách này

_______________

MUA THỈNH KINH SÁCH PHẬT HỌC

DO NXB LIÊN PHẬT HỘI PHÁT HÀNH




An Sĩ toàn thư - Khuyên người bỏ sự giết hại


Phật pháp ứng dụng


Cẩm nang phóng sinh


Phù trợ người lâm chung

Mua sách qua Amazon sẽ được gửi đến tận nhà - trên toàn nước Mỹ, Canada, Âu châu và Úc châu.

XEM TRANG GIỚI THIỆU.






DONATION

Quý vị đang truy cập từ IP 3.236.225.157 và chưa ghi danh hoặc đăng nhập trên máy tính này. Nếu là thành viên, quý vị chỉ cần đăng nhập một lần duy nhất trên thiết bị truy cập, bằng email và mật khẩu đã chọn.
Chúng tôi khuyến khích việc ghi danh thành viên ,để thuận tiện trong việc chia sẻ thông tin, chia sẻ kinh nghiệm sống giữa các thành viên, đồng thời quý vị cũng sẽ nhận được sự hỗ trợ kỹ thuật từ Ban Quản Trị trong quá trình sử dụng website này.
Việc ghi danh là hoàn toàn miễn phí và tự nguyện.

Ghi danh hoặc đăng nhập

Thành viên đang online:
Rộng Mở Tâm Hồn Lien Anh Rộng Mở Tâm Hồn Diệu Nhật Rộng Mở Tâm Hồn Vương Sỹ Mốt Rộng Mở Tâm Hồn Chúc Huy Rộng Mở Tâm Hồn Trương Quang Quý Rộng Mở Tâm Hồn Tăng Văn Y Rộng Mở Tâm Hồn Pháp Tâm Rộng Mở Tâm Hồn Pascal Bui Rộng Mở Tâm Hồn Trần Thị Huyền Rộng Mở Tâm Hồn Hoat Khong Rộng Mở Tâm Hồn Hộ Chánh Rộng Mở Tâm Hồn Nguyễn Văn Tài Rộng Mở Tâm Hồn Văn Dũng Rộng Mở Tâm Hồn Tâm Lương Rộng Mở Tâm Hồn Dinhvinh1964 Rộng Mở Tâm Hồn Diệu Tiến Rộng Mở Tâm Hồn Mai Phượng Rộng Mở Tâm Hồn Hạt Phù Du Rộng Mở Tâm Hồn Ngô Kim Ấn Rộng Mở Tâm Hồn congthangnguyenvn Rộng Mở Tâm Hồn FULLBRIGHTDANG Rộng Mở Tâm Hồn Huệ Trí 1975 Rộng Mở Tâm Hồn Viên Hiếu Thành Rộng Mở Tâm Hồn thanhbinh1427 Rộng Mở Tâm Hồn Tam Thien Tam Rộng Mở Tâm Hồn Lam Viên Quang Mai Rộng Mở Tâm Hồn T TH Rộng Mở Tâm Hồn HoaPham Rộng Mở Tâm Hồn NGUYỄN TRỌNG TÀI Rộng Mở Tâm Hồn Phan Huy Triều Rộng Mở Tâm Hồn van chương Rộng Mở Tâm Hồn lamtrinh Rộng Mở Tâm Hồn Chanhniem Forever Rộng Mở Tâm Hồn Huệ Lộc 1959 Rộng Mở Tâm Hồn Vicky Nguyen Rộng Mở Tâm Hồn Vạn Phúc Rộng Mở Tâm Hồn Trì Pháp Rộng Mở Tâm Hồn Minh Pháp Tự Rộng Mở Tâm Hồn maithanh151 Rộng Mở Tâm Hồn Thích Nguyên Trọng ... ...

Việt Nam (737 lượt xem) - Đức quốc (20 lượt xem) - Pháp quốc (19 lượt xem) - Trung Hoa (13 lượt xem) - Saudi Arabia (5 lượt xem) - Anh quốc (5 lượt xem) - Romania (3 lượt xem) - Senegal (1 lượt xem) - Hoa Kỳ (1 lượt xem) - ... ...