Mạng sống quý giá này có thể chấm dứt bất kỳ lúc nào, nhưng điều kỳ lạ là hầu hết chúng ta đều không thường xuyên nhớ đến điều đó!Tủ sách Rộng Mở Tâm Hồn

Người ta có hai cách để học hỏi. Một là đọc sách và hai là gần gũi với những người khôn ngoan hơn mình. (A man only learns in two ways, one by reading, and the other by association with smarter people.)Will Rogers
Những người hay khuyên dạy, ngăn người khác làm ác, được người hiền kính yêu, bị kẻ ác không thích.Kinh Pháp cú (Kệ số 77)
Một người sáng tạo được thôi thúc bởi khát khao đạt đến thành công, không phải bởi mong muốn đánh bại người khác. (A creative man is motivated by the desire to achieve, not by the desire to beat others.)Ayn Rand
Từ bi và độ lượng không phải là dấu hiệu của yếu đuối, mà thực sự là biểu hiện của sức mạnh.Đức Đạt-lai Lạt-ma XIV
Lửa nào sánh lửa tham? Ác nào bằng sân hận? Khổ nào sánh khổ uẩn? Lạc nào bằng tịnh lạc?Kinh Pháp Cú (Kệ số 202)
Điều người khác nghĩ về bạn là bất ổn của họ, đừng nhận lấy về mình. (The opinion which other people have of you is their problem, not yours. )Elisabeth Kubler-Ross
Mỗi cơn giận luôn có một nguyên nhân, nhưng rất hiếm khi đó là nguyên nhân chính đáng. (Anger is never without a reason, but seldom with a good one.)Benjamin Franklin
Điều quan trọng nhất bạn cần biết trong cuộc đời này là bất cứ điều gì cũng có thể học hỏi được.Rộng Mở Tâm Hồn
Mạng sống quý giá này có thể chấm dứt bất kỳ lúc nào, nhưng điều kỳ lạ là hầu hết chúng ta đều không thường xuyên nhớ đến điều đó!Tủ sách Rộng Mở Tâm Hồn
Chỉ có hai thời điểm mà ta không bị ràng buộc bởi bất cứ điều gì. Đó là lúc ta sinh ra đời và lúc ta nhắm mắt xuôi tay.Tủ sách Rộng Mở Tâm Hồn

Trang chủ »» Danh mục »» »» Mong Manh Một Hơi Thở »» Nghịch Lý (Tản văn) »»

Mong Manh Một Hơi Thở
»» Nghịch Lý (Tản văn)

(Lượt xem: 7)
Xem trong Thư phòng    Xem định dạng khác    Xem Mục lục 

       

Mong Manh Một Hơi Thở - Nghịch Lý (Tản văn)

Font chữ:


SÁCH AMAZON



Mua bản sách in

Người Đẹp Europa Và Cái Đầu Của Ông Epimenides

Vào một mùa thu năm nọ, tôi đi nghỉ tại đảo Kreta của Hy Lạp. Nghĩ lại thì điều ấy cũng chẳng có gì đặc biệt. Kreta là một điểm du lịch ăn khách, lại không quá đắt đỏ so với những nơi khác ở châu Âu, nên hầu như ai cũng có thể đến được. Hòn đảo này sống bằng du lịch; mỗi năm Kreta đón khoảng một triệu du khách từ khắp nơi trên thế giới đến thăm viếng, nghỉ dưỡng, chiêm ngưỡng những bãi biển xanh trong, những dãy núi khô cằn và những phế tích còn sót lại của các nền văn minh cổ xưa.

Ngồi trên máy bay, khi động cơ vừa ổn định độ cao, tôi đã mở cuốn sách hướng dẫn du lịch Kreta mới mua và đọc một cách say mê. Có lẽ vì đã đi biển quá nhiều trong những chuyến đi trước, lần này tôi tự nhủ mình sẽ không lười biếng nằm phơi nắng hay chỉ thong dong dạo bước trên các bãi biển ấm áp quen thuộc. Tôi muốn thử làm một kẻ lần mò, tìm đến những di tích cổ, những địa danh ít nhiều gắn với lịch sử, huyền thoại và triết học - những thứ từ lâu vẫn âm thầm hấp dẫn tôi.

Kreta thường được nhắc đến như chiếc nôi của Âu Châu. Chính từ mảnh đất nhỏ bé này, cái tên Europa đã ra đời và dần dần trở thành danh xưng của cả một lục địa.

Europa, trong thần thoại Hy Lạp, là một nàng công chúa xinh đẹp, con gái của vua Agenor xứ Tyros. Thần Zeus - vị thần tối cao, cha của các vị thần - đem lòng say mê nàng. Để tránh sự dòm ngó của Hera, Zeus hóa thân thành một con bò đực mình vàng, hiền lành và quyến rũ. Trong một buổi dạo chơi trên bãi biển, Europa bị vẻ đẹp của con bò thu hút, trèo lên lưng nó, để rồi bị nó đưa vượt biển khơi, sóng gió trùng trùng, đến tận đảo Kríti.

Tại vùng đất xa lạ ấy, Europa chung sống với Zeus và hạ sinh ba người con trai. Một trong số đó là Minos, về sau trở thành chúa đảo Kríti, gắn liền với những huyền thoại khác như mê cung, quái vật Minotaur và nhà kiến trúc Daedalus. Ai giăng làm chi mảnh lưới ái tình mà đến nỗi cả thần thánh cũng phải vướng lụy! Trong các sử thi Hy Lạp, đại thi hào Homer từng nhắc đến Europa như một vị hoàng hậu thần thoại của đảo Kríti, một biểu tượng vừa mang vẻ đẹp nữ tính, vừa gắn liền với sự khai sinh của cả một không gian văn hóa.

Mải mê với những hình ảnh và ghi chú trong sách, tôi chợt giật mình nhận ra một điều tưởng như rất quen mà bấy lâu nay không để ý: Kreta, viết theo tiếng Đức là Crete, tiếng Hy Lạp là Kríti - chính là cái tên mà tôi đã gặp từ thời trung học. Ngày ấy, cái lo lớn nhất của chúng tôi là học sao để thi cho đậu, vì không đậu là phải đi nhập ngũ ngay. Ít ai trong lớp thực sự để tâm đến những câu hỏi cắc cớ của triết học hay luận lý học. Cái tên Epimenides khi ấy chỉ lướt qua sách vở như một khái niệm khô khan, rồi nhanh chóng bị quên lãng.

Giờ đây, khi ngồi trên máy bay sắp hạ cánh xuống mảnh đất đầy nắng gió và huyền thoại này, tôi bỗng thấy trong lòng dâng lên một cảm giác hồi hộp rất lạ. Tôi sắp được đặt chân lên quê hương của Epimenides - người đã để lại cho nhân loại một nghịch lý nổi tiếng đến mức, dù không học triết hay toán, người ta vẫn có thể đã từng nghe qua.

Vậy “Nghịch Lý Nói Dối Epimenides” Rốt Cuộc Là Gì?

Nguồn gốc của nghịch lý này được ghi lại trong Kinh Thánh Tân Ước. Trong bức thư của Sứ đồ Paulus gửi cho Titus (Titus 1:12), có trích dẫn lời của một vị tiên tri xứ Kríti tên là Epimenides, sống vào khoảng thế kỷ thứ VI hoặc VII trước Công nguyên. Câu nói được ghi lại như sau: “Một người trong bọn họ, là bậc tiên tri của họ, đã nói rằng: Người Kríti nói dối, là thú dữ, ham ăn mà làm biếng.”

Thoạt nghe, đó chỉ là một lời phê phán nặng nề, thậm chí có phần xúc phạm. Nhưng chính từ đây, một trong những nghịch lý cổ xưa nhất của tư duy nhân loại được hình thành. Sử sách còn chép rằng Epimenides là người đã kiên quyết bảo vệ quan điểm cho rằng thần Zeus là bất tử - một niềm tin đi ngược lại với quan niệm của nhiều cư dân Kríti thời bấy giờ, vốn tin rằng Zeus đã chết và được chôn cất ngay trên đảo.

Trong bối cảnh ấy, Epimenides tuyên bố: “Tất cả người dân đảo Kríti đều là kẻ nói dối.” Nhưng trớ trêu thay, chính ông cũng là người Kríti. Nếu lời ông nói là đúng, thì ông - với tư cách là một người Kríti - cũng là kẻ nói dối. Mà nếu ông là kẻ nói dối, thì câu nói của ông không thể đúng, và như vậy người Kríti lại không phải là những kẻ nói dối. Nhưng nếu người Kríti không nói dối, thì lời của Epimenides lại trở thành không đúng. Một vòng lẩn quẩn khép kín, tự phủ định rồi lại tự khẳng định, không có điểm dừng.

Nghịch lý Epimenides được xem là một trong những nghịch lý xưa nhất của cái gọi là “nghịch lý nói dối”. Từ đó về sau, nó trở thành nguồn cảm hứng cho vô số câu chuyện, ví dụ và suy luận khác trong triết học và luận lý học.

Người ta thường nhắc đến một nghịch lý thú vị khác, gần gũi và dễ hình dung hơn: câu chuyện về Pinocchio - thằng người gỗ nổi tiếng của nhà văn Ý Carlo Collodi. Pinocchio có một đặc điểm rất đặc biệt: mỗi khi cậu nói dối, mũi sẽ dài ra một chút. Một ngày nọ, Pinocchio nhìn vào chiếc mũi của mình và thốt lên: “Ồ, mũi tôi đang dài ra.”

Nếu mũi Pinocchio đang dài ra, thì cậu đang nói dối. Nhưng nếu cậu đang nói dối, thì câu nói kia không đúng, và mũi không thể dài ra được. Ngược lại, nếu mũi không dài ra, thì Pinocchio đã nói thật, và như vậy mũi lại phải dài ra. Lý trí của chúng ta bị mắc kẹt trong một vòng tròn không lối thoát, giống như khi đối diện với lời tuyên bố của Epimenides.

Thật đúng là những vòng lẩn quẩn của nghịch lý và lý nghịch, tưởng như chỉ là trò chơi chữ nghĩa, nhưng lại đặt ra những câu hỏi sâu xa về bản chất của chân lý, ngôn ngữ và sự tự quy chiếu.

Từ nghịch lý Epimenides đến luận đề của Bertrand Russell

Phải hơn hai mươi lăm thế kỷ sau, tinh thần của nghịch lý Epimenides mới được làm sống lại một cách mạnh mẽ trong các công trình của nhà bác học người Anh Bertrand Russell. Russell (1872-1970) là một nhân vật hiếm hoi hội tụ nhiều vai trò: triết gia, toán học gia, nhà luận lý học và sử gia. Năm 1950, ông được trao giải Nobel Văn học, không phải cho các công trình toán học khô khan, mà cho những trước tác triết học và tiểu luận có ảnh hưởng sâu rộng đến tư duy hiện đại.

Russell kể lại một câu chuyện tưởng như rất đời thường, nhưng lại chứa đựng một nghịch lý nổi tiếng: nghịch lý ông thợ cạo râu ở làng Seville. Trong làng Seville chỉ có duy nhất một ông thợ cạo. Tất cả đàn ông trong làng, nếu không tự cạo râu, đều phải đến tiệm của ông. Ông thợ cạo tuyên bố: “Tôi cạo râu cho tất cả những người đàn ông không tự cạo râu.”

Nghe qua, câu nói ấy hoàn toàn hợp lý. Nhưng rồi có một người cắc cớ hỏi: “Vậy ai cạo râu cho bác?” Ngay khoảnh khắc ấy, nghịch lý xuất hiện. Nếu ông thợ cạo tự cạo râu cho mình, thì ông thuộc nhóm những người tự cạo râu, và theo tuyên bố của chính ông, ông không cạo râu cho nhóm này. Nhưng nếu ông không tự cạo râu, thì ông lại thuộc nhóm những người không tự cạo, và theo tuyên bố, ông phải cạo râu cho chính mình.

Dù ta cố gắng xếp ông thợ cạo vào nhóm nào - tự cạo hay không tự cạo - ta đều vấp phải mâu thuẫn. Câu chuyện đơn giản về việc cạo râu bỗng chốc trở thành một bát quái trận đồ của luận lý.

Russell chỉ ra rằng, gốc rễ của mâu thuẫn này nằm ở sự tự quy chiếu. Khi một hệ thống tự đặt mình làm đối tượng của chính nó, mâu thuẫn gần như là điều không thể tránh khỏi.

Ông diễn đạt nghịch lý này bằng ngôn ngữ của lý thuyết tập hợp trong toán học. Giả sử S là “tập hợp của tất cả các tập hợp không chứa chính nó”. Nếu S chứa chính nó, thì theo định nghĩa, S không được chứa chính nó. Nhưng nếu S không chứa chính nó, thì theo định nghĩa, S lại phải chứa chính nó. Hai mệnh đề “S là phần tử của S” và “S không là phần tử của S” không thể đồng thời đúng, nhưng cũng không thể đồng thời sai. Mâu thuẫn là điều tất yếu.

Russell muốn chứng minh rằng: trong những hệ thống tự quy chiếu, mâu thuẫn không phải là tai nạn, mà là hệ quả logic không thể tránh. Tập hợp ấy tồn tại, nhưng lại không thể tồn tại theo cách ta định nghĩa nó.

Tôi không có tham vọng đi sâu vào các tranh luận toán học hay triết học phức tạp xoay quanh Lý thuyết Tập hợp. Điều đáng ghi nhận là: chính những nền tảng lý thuyết tưởng như khô khan này đã góp phần quan trọng vào sự hình thành của khoa học máy tính và kỹ thuật điện toán hiện đại trong thế kỷ hai mươi và hai mươi mốt.

Từ Nghịch Lý Luận Lý Đến Chiêm Nghiệm Cuộc Sống

Những câu chuyện bên trời Tây, từ Epimenides đến Russell, người ta đã bàn cãi suốt hàng trăm năm vẫn chưa ngã ngũ. Tôi chỉ xin góp nhặt vài mảnh suy tư nhỏ bé để chiêm nghiệm thêm về đời sống và con đường tâm linh của chính mình.

Cuộc sống quanh ta vốn dĩ đầy những nghịch lý. Ai trong chúng ta mà chưa từng đứng trước những ngã ba của cuộc đời: rẽ trái hay rẽ phải, tiến lên hay lùi lại. Mỗi lựa chọn đều có cái giá của nó, và đôi khi không có con đường nào hoàn toàn đúng hay hoàn toàn sai. Sự lựa chọn nào cũng có nhiều hy sinh. Và đời người đâu chỉ có ngã ba; còn có ngã tư, ngã năm, ngã bảy; nơi mọi phương hướng đều có khói mờ mịt.

Có lúc tôi tự hỏi: tập hợp “x” trong các ví dụ luận lý kia là gì? Có khi nó chính là cái tôi. Trong thân xác này, mỗi ngày có hàng triệu tế bào chết đi, đồng thời hàng triệu tế bào khác sinh ra. Chúng thuộc về tôi, tạo nên tôi, nhưng cũng không phải là tôi theo nghĩa cố định và bất biến.

Nhìn theo cách ấy, cái “tôi” tưởng như rất gần, tưởng vươn tay là nắm được, nhưng lại không thể bám víu hay sai khiến. Vì ngay khi nó hình thành, nó đã mang trong mình mầm mống của hoại diệt. Không có cái gì tồn tại độc lập, vĩnh viễn trong vòng nghịch lý của sinh - diệt.

Nhà Phật gọi những yếu tố ấy là năm uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Kinh Bát Nhã dạy: “Sắc bất dị không, không bất dị sắc; sắc tức thị không, không tức thị sắc.” Nghe qua, đó lại là một nghịch lý: sắc là không, mà không lại là sắc. Nhưng chính nghịch lý ấy mở ra cái nhìn về vô thường, vô ngã và duyên sinh.

Kinh điển Pali thường dùng thuật ngữ khanika marana - cái chết trong từng sát-na. Mỗi khoảnh khắc, cái cũ chết đi, cái mới sinh ra. Bám chấp vào thân thể, cảm xúc hay bất kỳ đối tượng nào cũng đều tiềm ẩn nguy cơ khổ đau.

Quay về ngôi nhà Đông phương của mình, tôi nhớ đến lời cụ Nguyễn Duy Cần khi giải thích về Lão Tử và Đạo Đức Kinh. Cụ viết rằng: “Đạo không còn là một con đường hay phương tiện, mà là một nguyên lý huyền diệu, vượt khỏi mọi đối đãi nhị nguyên như có - không, cao - thấp, phải - quấy. Những mâu thuẫn ấy chỉ là hai mặt của cùng một thực tại.”

Lão Tử đã viết ngay từ chương đầu Đạo Đức Kinh: “Đạo khả đạo, phi thường đạo. Danh khả danh, phi thường danh.” Cái gì có thể nói ra được thì không còn là Đạo thường hằng. Hiểu Đạo bằng văn tự, bằng phân tích nhị nguyên, quả thật vô cùng hiểm trở nếu không có trực giác và sự sống thật với đời sống.

Tinh thần ấy cũng gặp lại trong Kinh Kim Cang, khi Đức Phật dạy: “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng. Nhược kiến chư tướng phi tướng, tức kiến Như Lai.” Tất cả những gì có hình tướng đều là hư vọng; thấy được cái không phải tướng, mới là thấy được thực tại.

Rốt ráo mà nói, từ Tây sang Đông, từ luận lý học, toán học đến đạo học, cái tưởng chừng như nghịch lý ấy thật ra không nghịch. Nó chỉ phản ánh đúng bản chất của thực tại. Pháp giống như chiếc bè qua sông: cần nó để sang bờ, nhưng sang bờ rồi thì phải buông bỏ. Mang chiếc bè trên đầu để đi tiếp chỉ làm nặng thêm gánh đường. Nói thì dễ, nhưng làm không dễ. Nhưng không phải là chưa từng có người làm được.

***

Sau khi đi một vòng khá xa, từ huyền thoại Hy Lạp, qua những nghịch lý của luận lý học phương Tây, rồi trở về với đạo học phương Đông, tôi chợt nhận ra rằng: điều làm con người khổ không hẳn là nghịch lý, mà là sự nôn nóng muốn giải thích nghịch lý; hay nói đúng hơn: muốn xóa bỏ nghịch lý ấy.

Ta thường muốn mọi sự phải rõ ràng, nhất quán. Phải - quấy phân minh, đúng - sai rạch ròi. Nhưng đời sống vốn không vận hành như một bài toán sơ cấp. Có những câu hỏi không có lời giải dứt khoát. Có những tình huống mà càng cố gắng phân định, ta càng rơi sâu hơn vào mâu thuẫn. Cũng như Epimenides, càng nói thì càng tự trói mình; như ông thợ cạo của Russell, càng muốn hợp lý thì càng bế tắc.

Có lẽ, bài học nhẹ nhàng nhất mà những nghịch lý ấy gợi ra là: đôi khi, điều cần thiết không phải là giải nghịch lý, mà là sống chung với nó. Không phải mọi mâu thuẫn đều cần được tháo gỡ; có những mâu thuẫn chỉ cần được thấy, được chấp nhận, rồi tự nhiên sẽ lắng xuống.

Trong đời sống hằng ngày cũng vậy. Ta vừa muốn an toàn, vừa khao khát tự do; vừa sợ mất mát, lại vừa mong thay đổi; vừa muốn buông bỏ, lại vừa không nỡ rời tay. Nếu cố ép mình phải chọn ngay một phía, ta dễ rơi vào căng thẳng và khổ đau. Nhưng nếu đủ chậm để nhìn sâu, ta có thể nhận ra rằng: hai phía ấy không phải luôn muốn loại trừ nhau. Chúng chỉ là hai mặt của cùng một tiến trình sống.

Nhà Phật nói “sắc tức thị không”, Lão Tử nói “huyền chi hựu huyền”. Những lời ấy, suy cho cùng, không nhằm tạo thêm một hệ thống tư tưởng mới để ta bám víu, mà nhắc ta đừng bám vào mọi hệ thống.

Khi không còn quá quyết liệt với việc phải đúng, phải thắng, phải nắm giữ, thì nghịch lý không còn là kẻ thù, mà trở thành người thầy âm thầm, trở thành Bắc đẩu trong đại dương mênh mông.

Những điều ta cho là “nghịch lý” - xét đến cùng, không phải là một bẫy tư duy, mà là một phần của đời sống con người. Mỗi chúng ta đều vừa muốn được an toàn, vừa khao khát đổi thay; vừa muốn giữ lấy, vừa muốn buông ra; vừa sợ lạc mất chính mình, nhưng lại mong mình được lớn hơn chính mình. Nếu xem đó là mâu thuẫn để triệt tiêu, ta sẽ mệt mỏi, đuối sức. Nếu xem đó là hơi thở của một đời người, ta bắt đầu nhẹ lại.

Có những câu hỏi không đòi lời giải, chỉ cần một không gian để được nhận diện. Có những bất an không cần xóa bỏ, chỉ cần được chấp nhận bằng mắt nhìn từ bi. Và có những khoảng trống, khi ta thôi lấp đầy, lại trở thành nơi tâm an trú.

Có lẽ hạnh phúc không nằm trong một chân lý cuối cùng, mà trong khả năng bước từng bước giữa đời mà không cần phải nắm chắc. Khi bớt đòi hỏi đời phải minh bạch tuyệt đối, ta thấy lòng mềm đi. Và chính trong cái mềm đó, tự do có chỗ để đến, còn ta có chỗ để thở./.

    « Xem chương trước       « Sách này có 22 chương »       » Xem chương tiếp theo »
» Tải file Word về máy » - In chương sách này



_______________

MUA THỈNH KINH SÁCH PHẬT HỌC

DO NXB LIÊN PHẬT HỘI PHÁT HÀNH




Những Đêm Mưa


Kinh Kim Cang


Hạnh phúc khắp quanh ta


Tư tưởng xã hội trong Kinh điển Phật giáo Nguyên thủy

Mua sách qua Amazon sẽ được gửi đến tận nhà - trên toàn nước Mỹ, Canada, Âu châu và Úc châu.

XEM TRANG GIỚI THIỆU.

Tiếp tục nghe? 🎧

Bạn có muốn nghe tiếp từ phân đoạn đã dừng không?



Quý vị đang truy cập từ IP 216.73.216.154 và chưa ghi danh hoặc đăng nhập trên máy tính này. Nếu là thành viên, quý vị chỉ cần đăng nhập một lần duy nhất trên thiết bị truy cập, bằng email và mật khẩu đã chọn.
Chúng tôi khuyến khích việc ghi danh thành viên ,để thuận tiện trong việc chia sẻ thông tin, chia sẻ kinh nghiệm sống giữa các thành viên, đồng thời quý vị cũng sẽ nhận được sự hỗ trợ kỹ thuật từ Ban Quản Trị trong quá trình sử dụng website này.
Việc ghi danh là hoàn toàn miễn phí và tự nguyện.

Ghi danh hoặc đăng nhập

Thành viên đang online:
Rộng Mở Tâm Hồn Viên Hiếu Thành Rộng Mở Tâm Hồn Huệ Lộc 1959 Rộng Mở Tâm Hồn Bữu Phước Rộng Mở Tâm Hồn Chúc Huy Rộng Mở Tâm Hồn Minh Pháp Tự Rộng Mở Tâm Hồn minh hung thich Rộng Mở Tâm Hồn Diệu Âm Phúc Thành Rộng Mở Tâm Hồn Phan Huy Triều Rộng Mở Tâm Hồn Phạm Thiên Rộng Mở Tâm Hồn Trương Quang Quý Rộng Mở Tâm Hồn Johny Rộng Mở Tâm Hồn Dinhvinh1964 Rộng Mở Tâm Hồn Pascal Bui Rộng Mở Tâm Hồn Vạn Phúc Rộng Mở Tâm Hồn Giác Quý Rộng Mở Tâm Hồn Trần Thị Huyền Rộng Mở Tâm Hồn Chanhniem Forever Rộng Mở Tâm Hồn NGUYỄN TRỌNG TÀI Rộng Mở Tâm Hồn KỲ Rộng Mở Tâm Hồn Dương Ngọc Cường Rộng Mở Tâm Hồn Mr. Device Rộng Mở Tâm Hồn Tri Huynh Rộng Mở Tâm Hồn Thích Nguyên Mạnh Rộng Mở Tâm Hồn Thích Quảng Ba Rộng Mở Tâm Hồn T TH Rộng Mở Tâm Hồn Tam Thien Tam Rộng Mở Tâm Hồn Nguyễn Sĩ Long Rộng Mở Tâm Hồn caokiem Rộng Mở Tâm Hồn hoangquycong Rộng Mở Tâm Hồn Lãn Tử Rộng Mở Tâm Hồn Ton That Nguyen Rộng Mở Tâm Hồn ngtieudao Rộng Mở Tâm Hồn Lê Quốc Việt Rộng Mở Tâm Hồn Du Miên Rộng Mở Tâm Hồn Quang-Tu Vu Rộng Mở Tâm Hồn phamthanh210 Rộng Mở Tâm Hồn An Khang 63 Rộng Mở Tâm Hồn zeus7777 Rộng Mở Tâm Hồn Trương Ngọc Trân Rộng Mở Tâm Hồn Diệu Tiến ... ...

... ...