Không nên nhìn lỗi người, người làm hay không làm.Nên nhìn tự chính mình, có làm hay không làm.Kinh Pháp cú (Kệ số 50)
Cho dù không ai có thể quay lại quá khứ để khởi sự khác hơn, nhưng bất cứ ai cũng có thể bắt đầu từ hôm nay để tạo ra một kết cuộc hoàn toàn mới. (Though no one can go back and make a brand new start, anyone can start from now and make a brand new ending. )Carl Bard
Việc đánh giá một con người qua những câu hỏi của người ấy dễ dàng hơn là qua những câu trả lời người ấy đưa ra. (It is easier to judge the mind of a man by his questions rather than his answers.)Pierre-Marc-Gaston de Lévis
Đừng làm một tù nhân của quá khứ, hãy trở thành người kiến tạo tương lai. (Stop being a prisoner of your past. Become the architect of your future. )Robin Sharma
Xưa, vị lai, và nay, đâu có sự kiện này: Người hoàn toàn bị chê,người trọn vẹn được khen.Kinh Pháp cú (Kệ số 228)
Ai bác bỏ đời sau, không ác nào không làm.Kinh Pháp cú (Kệ số 176)
Hãy thận trọng với những hiểu biết sai lầm. Điều đó còn nguy hiểm hơn cả sự không biết. (Beware of false knowledge; it is more dangerous than ignorance.)George Bernard Shaw
Tôi tìm thấy hy vọng trong những ngày đen tối nhất và hướng về những gì tươi sáng nhất mà không phê phán hiện thực. (I find hope in the darkest of days, and focus in the brightest. I do not judge the universe.)Đức Đạt-lai Lạt-ma XIV
Đừng làm cho người khác những gì mà bạn sẽ tức giận nếu họ làm với bạn. (Do not do to others what angers you if done to you by others. )Socrates
Người trí dù khoảnh khắc kề cận bậc hiền minh, cũng hiểu ngay lý pháp, như lưỡi nếm vị canh.Kinh Pháp Cú - Kệ số 65

Trang chủ »» Danh mục »» Đại từ điển Phật Quang »» Đang xem mục từ: tông »»

Đại từ điển Phật Quang »» Đang xem mục từ: tông








KẾT QUẢ TRA TỪ


tông:

(宗) I. Tông. Phạm:Sìddhànta. Hán âm: Tất đàn đa. Đồng nghĩa: Tông yếu, Tông chỉ. Hàm nghĩa là cái được tôn sùng, thông thường chỉ cho ý chỉ chính, nghĩa thú mà các giáo phái tôn sùng, hoặc điểm then chốt, chỗ qui thú của toàn bộ giáo thuyết trong các kinh luận. Phân biệt và quyết định tông yếu của mỗi bộ kinh, luận gọi là Minhtông, đây là vấn đề quan trọng của các tông phái Phật giáo xưa nay. Chẳng hạn như kinh Duyma lấy Bất khả tư nghì giải thoát làm Tông; kinh Đại Phẩm lấy Không tuệ làm Tông; kinh Thắng Man lấy Nhất thừa làm Tông... Theo Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương quyển 1, phần đầu, thì ngoại đạo ở Ấnđộ đời xưa có 16 tông như Nhân trung hữu quả...; Pháphoakinhhuyềntán quyển 1 thì qui nạp tất cả 20 bộ phái Tiểu thừa thành 6 tông như: Ngã pháp câu hữu, Hữu pháp vô ngã, Pháp vô khứ lai, Hiện thông giả thực và Chư pháp đãn danh, đồng thời chia Đại thừa thành 2 tông: Thắng nghĩa giai không và Ứng lí viên thực. Hoanghiêmngũgiáo chương quyển 1 cũng chia Đại thừa thành 4 tông: Nhất thiết giai không, Chân đức bất không, Tướng tưởng câu tuyệt và Viên minh cụ đức rồi cộng thêm 6 tông Tiểu thừa nói trong Pháp hoakinhhuyềntán quyển 1 mà thành 10 tông. Tất cả các tông này đều dựa vào nghĩa thú của các kinh luận mà phán lập tên tông. Thông thường các đoàn thể sùng tín cùng một giáo nghĩa được gọi là Tông. Tông đoàn lại chia ra nhiều chi nhánh gọi là Phái. Sự phân biệt giữa Tông đoàn này với các Tông đoàn khác thì gọi là Tông môn, Tông phái. Ngoài ra, giáo nghĩa do một phái chủ trương, gọi là Thú chỉ, Tông chỉ. Tên của tông phái gọi là Tông danh. Lí do đặt Tông danh có nhiều cách, có khi đặt theo kinh, như tông Hoa nghiêm, tông Niết bàn, có khi đặt theo luận, như tông Địa Luận, tông Câu xá, tông Tì đàm, tông Tam luận, tông Thành thực; có trường hợp y cứ vào giáo nghĩa mà đặt, như tông Thiền, tông Tịnh độ, tông Chân ngôn...; có khi theo tên của vị Khai tổ hoặc nơi ngài cư trú mà đặt, như tông Thiên thai, tông Lâm tế, tông Tào động của Trung quốc và tông Nhật liên của Nhật bản. Còn giáo nghĩa do tông phái nói ra thì gọi là Tông nghĩa, Tông thừa; phong khí của một tông, gọi là Tông phong; chỉ thú của một tông, gọi là Tông ý; Tổ sư của một tông, gọi là Tông tổ; môn đệ của một tông, gọi là Tông đồ; nghị luận liên quan đến sự hơn kém, thật giả của tông phái, gọi là Tông luận; công việc thuộc giáo đoàn của tông phái, gọi chung là Tông vụ; nơi coi về tông vụ, gọi là Tông vụ sở, người chủ trì Tông vụ sở, gọi là Tông vụ trưởng, Tông trưởng. Tại Trung quốc từ đời Đường, các vị Tổ sư sáng lập các tông phái để chuyên môn nghiên cứu, học tập, tu hành, như Thiền tông, Tịnh độ tông, Luật tông, Hoa nghiêm tông, Tam luận tông, Pháp tướng tông, Mật tông, Thiên thai tông, gọi là Đại thừa bát tông. Nếu thêm các tông: Tì đàm, Thành thực, Niết bàn, Nhiếp luận và Địa luận thì thành là 13 tông. Ở Nhật bản, vào thời đại Bình an có 8 tông thịnh hành là: Luật, Câu xá, Thành thực, Pháp tướng, Tam luận, Hoa Nghiêm, Thiên thai và Chân ngôn; cho nên sự học hỏi, nghiên cứu về giáo nghĩa của tất cả các tông phái Phật giáo, thông thường được gọi là Bát tông kiêm học(học cả 8 tông); Bát tông nếu thêm Thiền tông nữa thì thành Cửu tông(9 tông), quen gọi là Bát gia cửu tông(8 nhà 9 tông). Bát gia cửu tông này thu tóm tất cả tông phái. Ngoài ra còn có các thuyết 6 tông, 12 tông, 13 tông... [X. PháphoahuyềnnghĩaQ.1 thượng, Q.9 hạ; Hoa nghiêm kinh huyền kí Q.1; Quán kinh huyền nghĩa phần Q.1]. (xt. Thập Tam Tông). II. Tông. Phạm: Pakwa. Tiếng dùng trong Nhân minh. Một trong 5 chi tác pháp, 1 trong 3 chi tác pháp, 1 trong 8 Năng lập. Tức là luận đề, mệnh đề, phán đoán của một chủ trương nào đó mà chính mình nêu ra để tham luận, được cấu thành bởiChủ từ(tiền trần)và Tân từ(hậu trần). Chủ từ và tân từ đều gọi là Tông y, 2 phần này hợp làm một mệnh đề, gọi là Tông thể. Chẳng hạn như tín đồ Phật giáo đối với Thanh luận sư mà nêu luận thức: Tông: Âm thanh là vô thường. Nhân: Vìnó được tạo tác ra. Trong luận thức trên, âm thanh và vô thường đều là Tông y, 2 phần này hợp chung lại thành âm thanh là vô thường tức là Tông thể, vì nó được tạo ra là Nhân (lí do). Trong đối luận Nhân minh, theo qui định, Tông y đều phải được người lập luận(Lập) và người vấn nạn(Địch) cùng chấp nhận(lập địch cộng hứa); còn Tông thể thì lập địch bất cộng hứa, tức cái mà người lập luận chủ trương thì bị người vấn nạn phản đối. Tông được chia ra làm Chân tông (tông đúng) và Tự tông(tông sai). Chân tông tức là mệnh đề chính xác, Tự tông tức là mệnh đề sai lầm, dường như đúngnhưngthật ra là sai. Tự tông lại được chia làm 3 loại: Tương vi, Bất thành, Cực thành. Các nhà Cổ nhân minh từ ngài Trần na về trước cho rằng: Tông thuộc về Năng lập, ý chỉ cho tác pháp có khả năng xác lập chủ trương của chính mình. Nhưng các nhà Tân nhân minh như ngài Trần na, Thương yết la chủ... thì cho rằng chỉ có Nhân(lí do) vàDụ(ví dụ) mới đáng được gọi là Năng lập, đó là vì Nhân và Dụ có khả năng thành lập Tông, còn bản thân Tông thì vì chưa được đôi bên Lập, Địch cùng chấp nhận, cũng như phải đợi đến nghị luận mới có thể xác lập, cho nên Tông chỉ thuộc Sở lập chứ chẳng phải Năng lập. Đó là chỗ sai khác rất lớn về lập trường quan điểm giữa Tân nhân minh và Cổ nhân minh. [X. luận Nhân minh nhập chính lí; Nhân minh nhập chính lí luận ngộ tha môn thiển thích (Trầnđạitề); Nhân minh học (Xử ngu)]. (xt. TôngY, TôngThể).


Nếu muốn duyệt qua từng vần trong từ điển,
xin nhập vào ô dưới đây vần tương ứng. Ví dụ: A, B, C...

Nhập vần muốn tra:
Để giới hạn kết quả tìm kiếm chính xác hơn, quý vị có thể nhập 2 hoặc 3 chữ cái đầu vần. Ví dụ, để tìm những chữ như thiền, thiện... quý vị nên nhập thi thay vì t... sẽ cho một kết quả gần với yêu cầu của quý vị hơn.

Quý vị đang truy cập từ IP 54.162.164.86 (916628566) và chưa ghi danh hoặc đăng nhập trên máy tính này. Nếu là thành viên, quý vị chỉ cần đăng nhập một lần duy nhất trên thiết bị truy cập, bằng email và mật khẩu đã chọn.
Chúng tôi khuyến khích việc ghi danh thành viên ,để thuận tiện trong việc chia sẻ thông tin, chia sẻ kinh nghiệm sống giữa các thành viên, đồng thời quý vị cũng sẽ nhận được sự hỗ trợ kỹ thuật từ Ban Quản Trị trong quá trình sử dụng website này.
Việc ghi danh là hoàn toàn miễn phí và tự nguyện.

Ghi danh hoặc đăng nhập

Thành viên đang online:
Rộng Mở Tâm Hồn Beajimin Jp Rộng Mở Tâm Hồn duc ho Rộng Mở Tâm Hồn Tri Huynh Rộng Mở Tâm Hồn Konchog Dondrup Samten Rộng Mở Tâm Hồn baole Rộng Mở Tâm Hồn hieudepzai Rộng Mở Tâm Hồn Nguyen Thi Ngoc dung Rộng Mở Tâm Hồn Huệ Trí 1975 Rộng Mở Tâm Hồn Phi Thiên Rộng Mở Tâm Hồn Lương Trường Rộng Mở Tâm Hồn tuan huynh Rộng Mở Tâm Hồn phú nguyên Rộng Mở Tâm Hồn minhanhcon Rộng Mở Tâm Hồn Minh Hoa 237 Rộng Mở Tâm Hồn Giao Rộng Mở Tâm Hồn Trần Thị Huyền Rộng Mở Tâm Hồn Baoquan Rộng Mở Tâm Hồn Rongvang61 Rộng Mở Tâm Hồn Amalo Sati Rộng Mở Tâm Hồn Thích Nữ Hạnh Như Rộng Mở Tâm Hồn phước Hoà Rộng Mở Tâm Hồn Nguyễn Long Rộng Mở Tâm Hồn habichthuy Rộng Mở Tâm Hồn Quoc Phan Rộng Mở Tâm Hồn Truong Quang Minh Rộng Mở Tâm Hồn huynhphuoctuan Rộng Mở Tâm Hồn hatran Rộng Mở Tâm Hồn Nhuận Hoà Minh Rộng Mở Tâm Hồn b69 Rộng Mở Tâm Hồn buidacduong Rộng Mở Tâm Hồn Bao Phan Rộng Mở Tâm Hồn Hộ Chánh Rộng Mở Tâm Hồn Nguyên Bửu Đường Rộng Mở Tâm Hồn P V Thu Rộng Mở Tâm Hồn Phạm Thiên Rộng Mở Tâm Hồn NGỌC THẠCH Rộng Mở Tâm Hồn Nguyễn Văn Tài Rộng Mở Tâm Hồn Phúc Trung Rộng Mở Tâm Hồn Trần Thị Lan Anh Rộng Mở Tâm Hồn Nguyên Hiền ... ...

Việt Nam (17.244 lượt xem) - Hoa Kỳ (5.921 lượt xem) - Australia (222 lượt xem) - Pháp quốc (69 lượt xem) - Central African Republic (61 lượt xem) - Trung Hoa (53 lượt xem) - Đức quốc (21 lượt xem) - Mayotte (20 lượt xem) - Anh quốc (8 lượt xem) - Benin (8 lượt xem) - Cambodia (7 lượt xem) - Ấn Độ (7 lượt xem) - Đài Loan (1 lượt xem) - Ivory Coast (1 lượt xem) - Sri Lanka (1 lượt xem) - Nga (1 lượt xem) - Nhật Bản (1 lượt xem) - Singapore (1 lượt xem) - ... ...