BuddhaSasana Home Page

VU Times font


THERAVĀDA
Phật Giáo Nguyên Thủy

Lời Vàng Bậc Thánh
Sớ giải Trưởng Lão Tăng-Ni Kệ

Tỳ khưu Thiện Phúc
(Bhikkhu Kusalapuñño)
Ấn bản 2007

 

Lưu ý: Ðọc với phông chữ VU Times (Viet-Pali Unicode)


  
 

MỤC LỤC

  Lời nói đầu
[01] PHẦN I - Sớ giải Trưởng Lão Tăng Kệ

1. Kệ ngôn của Trưởng lão Subhūti
2. Kệ ngôn của Trưởng lão Kuṇdadhāna
3. Kệ ngôn của Trưởng lão Pilindavaccha
4. Kệ ngôn của Trưởng lão Puṇṇa
5.Kệ ngôn của Trưởng lão Sopāka
6. Kệ ngôn của Trưởng lão Vimala
7. Kệ ngôn của Trưởng lão Adhimutta
8. Kệ ngôn của Trưởng lão Pārāpariya
9. Kệ ngôn của Trưởng lão Dabba
10. Kệ ngôn của Trưởng lão nirodha
11. Kệ ngôn của Trưởng lão Sānu
12. Kệ ngôn của Trưởng lão Mahākoṭṭhitagāthā
13. Kệ ngôn của Trưởng lão Godhika
14. Kệ ngôn của Trưởng lão Mānava
15. Kệ ngôn của Trưởng lão Ekudāniya
16. Kệ ngôn của Trưởng lão Khadiravaniyata
17. Kệ ngôn của Trưởng lão Sambhūta
18. Kệ ngôn của Trưởng lão Vanavaccha
19. Kệ ngôn của Trưởng lão Yasa
20. Kệ ngôn của Trưởng lão Mahānama
21. Kệ ngôn của Trưởng lão Sabhiya
22. Kệ ngôn của Trưởng lão Lakuṇdaka
23. Kệ ngôn của Trưởng lão Subhuta

[02] 24. Kệ ngôn của Trưởng lão Girimānanda
25. Kệ ngôn của Trưởng lão Vakkali
26. Kệ ngôn của Trưởng lão Uttara
27. Kệ ngôn của Trưởng lão Pindolabharadvaja
28. Kệ ngôn của Trưởng lão Vasabha
29. Kệ ngôn của Trưởng lão Tissra
30. Kệ ngôn của Trưởng lão Valliya
31. Kệ ngôn của Trưởng lão Sabbamitta
32. Kệ ngôn của Trưởng lão Nanda
33. Kệ ngôn của Trưởng lão Bhadaji
34. Kệ ngôn của Trưởng lão Sobhita
35. Kệ ngôn của Trưởng lão Kumarakassapa
36. Kệ ngôn của Trưởng lão Mogharaja
37. Kệ ngôn của Trưởng lão Paccaya
38. Kệ ngôn của Trưởng lão Bakulathegatha
39. Kệ ngôn của Trưởng lão Varana
40. Kệ ngôn của Trưởng lão Herannakani
41. Kệ ngôn của Trưởng lão Uruvelakassapa
[03] PHẦN II - Sớ giải Trưởng Lão Ni Kệ

1. Kệ ngôn của Trưởng lão ni Dhammadinnā
2. Kệ ngôn của Trưởng lão ni Nandā
3. Kệ ngôn của Trưởng lão ni Abhayamātā
4. Kệ ngôn của Trưởng lão ni Ubbiri
5. Kệ ngôn của Trưởng lão ni Sukkā
6. Kệ ngôn của Trưởng lão ni Selā
7. Kệ ngôn của Trưởng lão ni Bhaddakāpilānī
8. Kệ ngôn của Trưởng lão ni Nandā (2)
9. Kệ ngôn của Trưởng lão ni Bhaddākuṇḍalakesā
10. Kệ ngôn của Trưởng lão ni Paṭācārā
11. Kệ ngôn của Trưởng lão ni Khemā
12. Kệ ngôn của Trưởng lão ni Mahāpajāpatī-gotamī
13. Kệ ngôn của Trưởng lão ni Uppalavaṇṇā
14. Kệ ngôn của Trưởng lão ni Sumedhā

-ooOoo-

Cung kỉnh Đức Thế Tôn, Bậc A La Hán, đấng Chánh Biến Tri

Lời Nói Đầu

Đường luân hồi tuy dài vẫn có ngày kết thúc. Phật đạo khó thành nhưng không phải là không thể. Bất cứ ai gắng làm lành, tu trì Balamật thì đều có thể đạt thành cứu cánh. Những giai thoại kể trong Theratherīgāthā (Trưởng lão Tăng kệ - Trưởng lão ni kệ) là minh chứng cho điều đó.

Tập Theragāthā, Therīgāthā ghi lại cảm khái của các Tỳ khưu, Tỳ khưu ni sau khi giác ngộ bằng thi kệ. Có thể gọi đây là thiền thi hay thiền ca trong văn học Pāli. Nội dung hai tập kinh nầy gợi nhớ lại Thiền Uyển Tập Anh trong văn học Phật giáo Việt Nam, chỉ khác nhau là các kệ thi tịch của các Thiền sư được ghi lại trước khi viên tịch, còn Trưởng lão Tăng, Trưởng lão ni thì ghi lại kệ cảm khái khi giác ngộ.

Hai tập kinh nầy là 2 trong 15 tập của Tiểu Bộ Kinh, các nhà Phật học xem đây là tập kinh nguyên thủy nhất. Chánh kinh chỉ có phần thi kệ, còn phần tiểu sử mà chúng ta thấy trong tập sách là trong bản sớ giải (Aṭṭhakātha). Trong vài trường hợp, tập sớ chỉ vắn tắt vài dòng tiểu sử một vị Trưởng lão, đương nhiên đó như là những thoại đầu.

Quá trình tu chứng của các ngài là sự nỗ lực tự thân. Có vị giữ oai nghi không nằm để hành đạo (Trưởng lão Cakkhupala), có vị chỉ sống ở núi rừng (Trưởng lão Gevata), có vị thọ trì tất cả pháp Đầu Đà (Trưởng lão Mahākassapa). Tuệ giác của các ngài là kết quả chứng nghiệm tuyệt nhiên không hề có khải thị, mặc khải mà là trí giả thân chứng (Paccattaṃveditappo viññuhi).

Đối tượng tu quán cũng là điểm nổi bật trong tập sách nầy. Chúng ta không hề thấy các Phật cụ hay Pháp khí của các Thiền sư thời Tượng Pháp, mà chỉ có các đề tài tu quán, như quán niệm hơi thở, đại oai nghi, tiểu oai nghi, thân bất tịnh, v.v. Tất cả được cô đọng trong câu Phật ngôn: "Nầy chư Tỳ khưu, trong tấm thân dài một trượng nầy, Như Lai trình bày về sự khổ, nguyên nhân sanh khổ, sự diệt khổ và con đường đưa đến sự diệt khổ" (Kinh Tương Ưng).

Tập kinh nầy sớm được hoàn tất là do lòng nhiệt thành đóng góp của chư Phật tử trong Quỹ Hùn Phước Visakha do đạo hữu Bình Anson đại diện, với sự nỗ lực đánh máy vi tính của gia đình Phật tử Nguyễn Thị Minh Tâm, và cô Nguyễn Thị Tú Anh giúp xin giấy phép, thực hiện in ấn hoàn thành cuốn sách.

Nguyện cầu phước báu nầy gia hộ cho toàn thể quí vị luôn được an lành hạnh phúc và tiến hóa trong hào quang từ bi và trí tuệ của Đức Phật.

Chùa Bửu Quang
Đầu hạ năm Đinh Tỵ, PL. 2551
Tỳ khưu Thiện Phúc
(
Bhikkhu Kusalapuñño)

-ooOoo-

 Ðầu trang | 01 | 02 | 03 | Mục lục



[Trở về trang Thư Mục]
last updated: 02-09-2007

Loi Vang Bac Thanh - Tk Thien Phuc

BuddhaSasana Home Page

VU Times font


THERAVĀDA
Phật Giáo Nguyên Thủy

Lời Vàng Bậc Thánh
Sớ giải Trưởng Lão Tăng-Ni Kệ

Tỳ khưu Thiện Phúc
(Bhikkhu Kusalapuñño)
Ấn bản 2007

 

Lưu ý: Ðọc với phông chữ VU Times (Viet-Pali Unicode)


  
 

MỤC LỤC

  Lời nói đầu
[01] PHẦN I - Sớ giải Trưởng Lão Tăng Kệ

1. Kệ ngôn của Trưởng lão Subhūti
2. Kệ ngôn của Trưởng lão Kuṇdadhāna
3. Kệ ngôn của Trưởng lão Pilindavaccha
4. Kệ ngôn của Trưởng lão Puṇṇa
5.Kệ ngôn của Trưởng lão Sopāka
6. Kệ ngôn của Trưởng lão Vimala
7. Kệ ngôn của Trưởng lão Adhimutta
8. Kệ ngôn của Trưởng lão Pārāpariya
9. Kệ ngôn của Trưởng lão Dabba
10. Kệ ngôn của Trưởng lão nirodha
11. Kệ ngôn của Trưởng lão Sānu
12. Kệ ngôn của Trưởng lão Mahākoṭṭhitagāthā
13. Kệ ngôn của Trưởng lão Godhika
14. Kệ ngôn của Trưởng lão Mānava
15. Kệ ngôn của Trưởng lão Ekudāniya
16. Kệ ngôn của Trưởng lão Khadiravaniyata
17. Kệ ngôn của Trưởng lão Sambhūta
18. Kệ ngôn của Trưởng lão Vanavaccha
19. Kệ ngôn của Trưởng lão Yasa
20. Kệ ngôn của Trưởng lão Mahānama
21. Kệ ngôn của Trưởng lão Sabhiya
22. Kệ ngôn của Trưởng lão Lakuṇdaka
23. Kệ ngôn của Trưởng lão Subhuta

[02] 24. Kệ ngôn của Trưởng lão Girimānanda
25. Kệ ngôn của Trưởng lão Vakkali
26. Kệ ngôn của Trưởng lão Uttara
27. Kệ ngôn của Trưởng lão Pindolabharadvaja
28. Kệ ngôn của Trưởng lão Vasabha
29. Kệ ngôn của Trưởng lão Tissra
30. Kệ ngôn của Trưởng lão Valliya
31. Kệ ngôn của Trưởng lão Sabbamitta
32. Kệ ngôn của Trưởng lão Nanda
33. Kệ ngôn của Trưởng lão Bhadaji
34. Kệ ngôn của Trưởng lão Sobhita
35. Kệ ngôn của Trưởng lão Kumarakassapa
36. Kệ ngôn của Trưởng lão Mogharaja
37. Kệ ngôn của Trưởng lão Paccaya
38. Kệ ngôn của Trưởng lão Bakulathegatha
39. Kệ ngôn của Trưởng lão Varana
40. Kệ ngôn của Trưởng lão Herannakani
41. Kệ ngôn của Trưởng lão Uruvelakassapa
[03] PHẦN II - Sớ giải Trưởng Lão Ni Kệ

1. Kệ ngôn của Trưởng lão ni Dhammadinnā
2. Kệ ngôn của Trưởng lão ni Nandā
3. Kệ ngôn của Trưởng lão ni Abhayamātā
4. Kệ ngôn của Trưởng lão ni Ubbiri
5. Kệ ngôn của Trưởng lão ni Sukkā
6. Kệ ngôn của Trưởng lão ni Selā
7. Kệ ngôn của Trưởng lão ni Bhaddakāpilānī
8. Kệ ngôn của Trưởng lão ni Nandā (2)
9. Kệ ngôn của Trưởng lão ni Bhaddākuṇḍalakesā
10. Kệ ngôn của Trưởng lão ni Paṭācārā
11. Kệ ngôn của Trưởng lão ni Khemā
12. Kệ ngôn của Trưởng lão ni Mahāpajāpatī-gotamī
13. Kệ ngôn của Trưởng lão ni Uppalavaṇṇā
14. Kệ ngôn của Trưởng lão ni Sumedhā

-ooOoo-

Cung kỉnh Đức Thế Tôn, Bậc A La Hán, đấng Chánh Biến Tri

Lời Nói Đầu

Đường luân hồi tuy dài vẫn có ngày kết thúc. Phật đạo khó thành nhưng không phải là không thể. Bất cứ ai gắng làm lành, tu trì Balamật thì đều có thể đạt thành cứu cánh. Những giai thoại kể trong Theratherīgāthā (Trưởng lão Tăng kệ - Trưởng lão ni kệ) là minh chứng cho điều đó.

Tập Theragāthā, Therīgāthā ghi lại cảm khái của các Tỳ khưu, Tỳ khưu ni sau khi giác ngộ bằng thi kệ. Có thể gọi đây là thiền thi hay thiền ca trong văn học Pāli. Nội dung hai tập kinh nầy gợi nhớ lại Thiền Uyển Tập Anh trong văn học Phật giáo Việt Nam, chỉ khác nhau là các kệ thi tịch của các Thiền sư được ghi lại trước khi viên tịch, còn Trưởng lão Tăng, Trưởng lão ni thì ghi lại kệ cảm khái khi giác ngộ.

Hai tập kinh nầy là 2 trong 15 tập của Tiểu Bộ Kinh, các nhà Phật học xem đây là tập kinh nguyên thủy nhất. Chánh kinh chỉ có phần thi kệ, còn phần tiểu sử mà chúng ta thấy trong tập sách là trong bản sớ giải (Aṭṭhakātha). Trong vài trường hợp, tập sớ chỉ vắn tắt vài dòng tiểu sử một vị Trưởng lão, đương nhiên đó như là những thoại đầu.

Quá trình tu chứng của các ngài là sự nỗ lực tự thân. Có vị giữ oai nghi không nằm để hành đạo (Trưởng lão Cakkhupala), có vị chỉ sống ở núi rừng (Trưởng lão Gevata), có vị thọ trì tất cả pháp Đầu Đà (Trưởng lão Mahākassapa). Tuệ giác của các ngài là kết quả chứng nghiệm tuyệt nhiên không hề có khải thị, mặc khải mà là trí giả thân chứng (Paccattaṃveditappo viññuhi).

Đối tượng tu quán cũng là điểm nổi bật trong tập sách nầy. Chúng ta không hề thấy các Phật cụ hay Pháp khí của các Thiền sư thời Tượng Pháp, mà chỉ có các đề tài tu quán, như quán niệm hơi thở, đại oai nghi, tiểu oai nghi, thân bất tịnh, v.v. Tất cả được cô đọng trong câu Phật ngôn: "Nầy chư Tỳ khưu, trong tấm thân dài một trượng nầy, Như Lai trình bày về sự khổ, nguyên nhân sanh khổ, sự diệt khổ và con đường đưa đến sự diệt khổ" (Kinh Tương Ưng).

Tập kinh nầy sớm được hoàn tất là do lòng nhiệt thành đóng góp của chư Phật tử trong Quỹ Hùn Phước Visakha do đạo hữu Bình Anson đại diện, với sự nỗ lực đánh máy vi tính của gia đình Phật tử Nguyễn Thị Minh Tâm, và cô Nguyễn Thị Tú Anh giúp xin giấy phép, thực hiện in ấn hoàn thành cuốn sách.

Nguyện cầu phước báu nầy gia hộ cho toàn thể quí vị luôn được an lành hạnh phúc và tiến hóa trong hào quang từ bi và trí tuệ của Đức Phật.

Chùa Bửu Quang
Đầu hạ năm Đinh Tỵ, PL. 2551
Tỳ khưu Thiện Phúc
(
Bhikkhu Kusalapuñño)

-ooOoo-

 Ðầu trang | 01 | 02 | 03 | Mục lục



[Trở về trang Thư Mục]
last updated: 02-09-2007