Trang gốc

Trang web BuddhaSasana

VU Times font

 

THERAVĀDA

SỬ LIỆU VỀ ĐẢO LAṄKĀ
(DĪPAVAṂSA)

Nguyên tác Pāli: Không rõ danh tánh
Lời tiếng Việt: Tỳ khưu Indacanda (Trương đình Dũng)

SRI JAYAWARDHANARAMAYA
COLOMBO – 2005

Lưu ý: Ðọc với phông chữ VU Times (Viet-Pali Unicode)


PAÑCADASAMO PARICCHEDO
CHƯƠNG THỨ MƯỜI LĂM

1/-
Gimhāne paṭhame māse puṇṇamāse uposathe,
āgatā jambudīpamhā vasimha pabbatuttame.

(Ngài Mahinda nói với đức vua rằng): “Vào ngày trăng tròn Uposatha của tháng thứ nhất thuộc mùa nóng, chúng tôi đã từ Jambudīpa đi đến cư ngụ ở ngọn núi tuyệt vời.

2/-
Pañcamāse na vuṭṭhamhā tissārāme ca pabbate,
gacchāma jambudīpānaṃ anujāna rathesabha.

Trong năm tháng, chúng tôi đã không lìa xa tu viện Tissārāma và ngọn núi, giờ chúng tôi sẽ đi Jambudīpa. Tâu bệ hạ, xin ngài hãy chấp thuận.”

3/-
Tappema annapānehi vatthasenāsanehi ca,
saraṇaṃ gato jano sabbo kuto vo anabhirati.

4/-
Abhivādanapaccuṭṭhānamañjaliṅgarudassanaṃ,
ciraṃ diṭṭho mahārāja sambuddhaṃ dipaduttamaṃ.

(Đức vua): “Chúng tôi đã nỗ lực về cơm nước, y phục, và chỗ ngụ. Tất cả mọi người đều đã quy y. Vì sao các ngài lại không hoan hỷ việc đảnh lễ, đứng dậy, chắp tay, thành kính, và chiêm ngưỡng?” (Ngài Mahinda): “Tâu đại vương, đã lâu nay tôi không được nhìn thấy đấng Chánh Đẳng Giác, bậc tối thượng của loài người.”

5/-
Aññātaṃ vatāhaṃ bhante karomi thūpam uttamaṃ,
vijānātha bhūmikammaṃ thūpaṃ kāhāmi satthuno.

(Đức vua): “Thưa ngài, đương nhiên trẫm hiểu được. Trẫm sẽ xây dựng ngôi bảo tháp hạng nhất. Xin các ngài quan tâm đến việc lựa chọn khu đất, trẫm sẽ xây dựng ngôi bảo tháp cho bậc Đạo Sư.”

6/-
Ehi tvaṃ sumana gantvā pāṭaliputtapuruttamaṃ ,
asokaṃ dhammarājānaṃ evaṃ c’ārocayāhi tvaṃ.

(Ngài Mahinda nói với sa-di Sumana): “Này Sumana, con hãy đi đến kinh đô Pāṭaliputta và con hãy thưa với đức vua công chính Asoka như vầy:

7/-
Sāhāyo te mahārāja pasanno buddhasāsane,
dehi dhātuvaraṃ tassa thūpaṃ kāhāti satthuno.

Tâu đại vương, người bạn của ngài đã có niềm tin vào Phật Pháp. Xin ngài hãy bố thí xá-lợi cao quý đến ông ấy, ông ấy sẽ xây dựng ngôi bảo tháp cho bậc Đạo Sư.’”

8/-
Bahussuto sutadharo subbaco vacanakkhamo,
iddhiyā pāramippatto acalo suppatiṭṭhito.

Sumana là vị đa văn, ghi nhớ điều đã học, dễ dạy, nhẫn nhịn, thành tựu ba-la-mật và thần thông, không dao động, và khéo an trú.

9/-
Pattacīvaramādāya khaṇe pakkami pabbatā,
asokaṃ dhammarājānaṃ ārocesi yathākathaṃ.

Sau khi cầm lấy y và bình bát, trong phút chốc vị ấy đã rời khỏi ngọn núi và đã trình bày với đức vua công chính Asoka đúng như lời dặn dò:

10/-
Upajjhāyassa me rāja suṇohi vacanaṃ tuvaṃ,
sahāyo te mahārāja pasanno buddhasāsane,
dehi dhātuvaraṃ tassa thūpaṃ kāhati satthuno.

Tâu bệ hạ, xin ngài hãy lắng nghe lời nói của thầy tế độ tôi rằng: ‘Tâu đại vương, người bạn của ngài đã có niềm tin vào Phật Pháp. Xin ngài hãy bố thí xá-lợi cao quý đến ông ấy, ông ấy sẽ xây dựng ngôi bảo tháp cho bậc Đạo Sư.’”

11/-
Sutvāna vacanaṃ rājā tuṭṭho saṃviggamānaso,
dhātupattam apūresi khippaṃ gacchāhi subbata.

Lắng nghe lời nói, đức vua trở nên hoan hỷ và có tâm tư phấn chấn đã chứa xá-lợi đầy bình bát (nói rằng): “Thưa bậc đạo đức, xin ngài hãy mau chóng khởi hành.”

12/-
Tato dhātuṃ gahetvāna subbaco vacanakkhamo,
vehāsaṃ abbhuggantvā’gamā kosiyasantike.

Sau khi nhận lấy xá-lợi từ nơi ấy, vị dễ dạy, nhẫn nhịn đã bay lên không trung rồi đi đến gặp vị thần Kosiya.[1]

13/-
Subbaco anupasaṅkamma kosiyaṃ etadabravī,
upajjhāyassa me rāja suṇohi vacanaṃ tuvaṃ.

Vị dễ dạy đã đi đến gần rồi đã nói với vị thần Kosiya điều này: “Tâu bệ hạ, xin ngài hãy lắng nghe lời nói của thầy tế độ tôi rằng:

14/-
Devānaṃpiyo rājā so pasanno buddhasāsane,
dehi dhātuvaraṃ tassa kāhati thūpamuttamaṃ.

Đức vua Devānampiya ấy đã có niềm tin vào Phật Pháp. Xin ngài hãy bố thí xá-lợi cao quý đến ông ấy, ông ấy sẽ xây dựng ngôi bảo tháp tuyệt vời.’”

15/-
Sutvāna vacanaṃ tassa kosiyo tuṭṭhamānaso,
dakkhiṇakkhakaṃ pādāsi khippaṃ gacchāhi subbata.

Lắng nghe lời nói của vị ấy, với tâm hoan hỷ vị thần Kosiya đã trao (xá-lợi) xương đòn phía bên phải (nói rằng): “Thưa bậc đạo đức, xin ngài hãy mau chóng khởi hành.”

16/-
Sāmaṇero ca sumano gantvā kosiyasantike,
dakkhiṇakkhakaṃ gahetvāna’patiṭṭhito pabbatuttame.

Và sau khi đi đến gặp vị thần Kosiya và nhận lấy (xá-lợi) xương đòn phía bên phải, vị sa-di Sumana đã về lại ngọn núi tuyệt vời.

17/-
Sampannahirottappako garubhāvo ca paṇḍito,
pesito therarājena patiṭṭhito pabbatuttame.

Bậc trí tuệ có đầy đủ tàm quý và có bản chất đáng kính được vị đứng đầu các trưởng lão phái đi, giờ đã hiện diện tại ngọn núi tuyệt vời.

18/-
Sabhātuko mahāseno bhikkhusaṅghe varuttame,
paccuggami tadā rājā buddhaseṭṭhassa dhātuyo.

Khi ấy, đức vua cùng với các người em trai và đoàn quân đông đảo đã đi ra đón rước các viên xá-lợi của đức Phật tối cao ở nơi hội chúng tỳ khưu cao quý tối thượng

19/-
Cātumāsaṃ komudiyaṃ divasaṃ puṇṇarattiyā,
āgato ca mahāvīro gajakumbhe patiṭṭhito.

Vào dịp lễ hội Cātumāsa nhằm đêm trăng tròn của ngày rằm tháng Kattika, (xá-lợi của) đấng Đại Hùng đã đến, ngự ở trên đầu của con voi.

20/-
Akāsi so kuñcanādaṃ kaṃsathālaggiyāhataṃ,
akampi tattha paṭhavī paccantamāgate muni.

Con voi đã rống lên tiếng rống của loài voi như tiếng cồng gõ. Tại nơi ấy, trái đất đã rúng động khi (xá-lợi) của đấng Mâu Ni đang tiến vào khu vực lân cận.

21/-
Saṅkhapanavaninnādo bherisaddo samāhato,
khattiyo parivāretvā pūjesi purisuttamaṃ.

Âm thanh của tiếng tù và cùng với tiếng trống con đã hòa âm điệu.Vị Sát-đế-lỵ đã tháp tùng tôn vinh bậc vĩ nhân.

22/-
Pacchāmukho hatthināgo pakkami pattisammukhā,
puratthimena dvārena nagaraṃ pāvisi tadā.

Khi ấy, con long tượng đầu quay về hướng tây đã bước ra dẫn đầu đoàn bộ binh và đã đi vào thành phố bằng cổng thành ở hướng đông.

23/-
Sabbagandhaṃ ca mālaṃ ca pūjenti naranāriyo,
dakkhiṇena ca dvārena nikkhamitvā gajuttamo.

Đoàn người nam nữ cúng dường mọi thứ hương thơm và vòng hoa. Và con voi chúa đã đi ra (khỏi thành phố) bằng cổng thành phía nam.

24/-
Kakusandhe ca satthari konāgamane ca kassape,
patiṭṭhite bhūmibhāge porāṇa isinaṃ pure.

Và ở tại khuôn viên khu đất ở trong thành phố của các vị ẩn sĩ thời xưa đã được các bậc Đạo Sư Kakusandha, Konāgamana, và Kassapa ngự đến.

25/-
Upāgato hatthirājā bhūmisīsaṃ gajuttamo,
dhātuyo sakyaputtassa patiṭṭhesi narāsabho.

Con voi chúa, đứng đầu loài voi, đã đi lên phía trên đỉnh đồi. Đức vua đã an vị các xá-lợi của đức Thích Ca.

26/-
Saha patiṭṭhite dhātu devā tattha pamoditā,
akampi tattha paṭhavī abbhūtaṃ lomahaṃsanaṃ.

Chư thiên ở nơi ấy đã hoan hỷ với việc xá-lợi được an vị. Tại nơi ấy, trái đất đã rúng động. Thật là trạng thái kỳ diệu khiến lông tóc dựng đứng.

27/-
Sabhātuko pasādetvā mahāmacce saraṭṭhake,
thūpiṭṭhikaṃ ca kāresi sāmaṇero mahiddhiko.

(Đức vua) cùng với các người em trai đã tạo niềm tin cho các quan đại thần và dân cư trong xứ sở. Và vị sa-di có đại thần lực đã cho thực hiện gạch để xây dựng ngôi bảo tháp.

28/-
Paccekapūjañcākaṃsu khattiyā thūpam uttamaṃ,
vararatanasaṃchannaṃ dhātudīpaṃ varuttamaṃ.

Các vị Sát-đế-lỵ đã thực hiện sự cúng dường của cá nhân đến ngôi bảo tháp tối thượng có xá-lợi vô cùng cao quý rực sáng như ngọn đèn và được che phủ châu ngọc quý giá.

29/-
Setacchattaṃ ca paccekachattañcānekakaṃ yathā,
tathārūpaṃ alaṃkāraṃ vālavījani dassati.

Và có lọng che màu trắng, lọng đơn hoặc kép đều giống nhau. Tương tợ như thế, cây quạt lông thú được xem là vật trang sức.

30/-
Thūpaṭṭhāne catuddisā padīpehi vibhātakā,
sataraṃsi udente va upasobhanti samantato.

Ở tại vị trí của ngôi bảo tháp, có những tia sáng từ những ngọn đèn tỏa sáng ở bốn phía xung quanh giống như mặt trời đang mọc.

31/-
Pattharitehi dussehi nānāraṅgehi cittiyo,
ākāso vigatabbho ca uparūpari sobhati.

Có những bức tranh vẽ với những tấm vải nhiều màu được căng lên và không gian là bầu trời quang đãng chiếu sáng ở phía bên trên.

32/-
Ratanamayaparikkhittaṃ aggiyaphalikāni ca,
kañcanavitānaṃ chattaṃ sovaṇṇamāli vicittakaṃ.

Có mái che bằng vàng được viền quanh bằng châu ngọc và những viên ngọc pha-lê quý giá, và có chiếc lọng che với vòng hoa bằng vàng đa dạng.

33/-
Imaṃ passati sambuddho kakusandho vināyako,
cattālīsasahassehi tādīhi parivārito.

Là vị lãnh đạo được tháp tùng bởi bốn mươi ngàn vị tương tợ như Ngài, đấng Chánh Đẳng Giác Kakusandha đã quan sát nơi này.

34/-
Karuṇā codito buddho satte passati cakkhumā,
ojadīpe’bhayapure dukkhappatte ca mānuse.

Thúc giục bởi lòng bi mẫn, đức Phật bậc Hữu Nhãn đã nhìn thấy chúng sanh và nhân loại đang chịu khổ hình trong thành Abhaya ở trên hòn đảo Ojadīpa.

35/-
Bodhesi te bahū satte bodhaneyye mahājane,
buddharaṃsānubhāvena ādicco padumaṃ yathā.

Với năng lực hào quang của vị Phật, Ngài đã thức tỉnh số đông chúng sanh ấy là những người có khả năng giác ngộ, tương tợ như mặt trời đánh thức đóa hoa sen.

36/-
Cattālīsasahassehi bhikkhūhi parivārito,
abbhuṭṭhitova suriyo ojadīpe patiṭṭhito.

Được tháp tùng bởi bốn mươi ngàn vị tỳ khưu, Ngài đã ngự trên hòn đảo Ojadīpa giống như ánh mặt trời mọc.

37/-
Kakusandho mahādevo devakūṭo ca pabbato,
ojadīpe’bhayapure abhayo nāma khattiyo.

Ngài Kakusandha có tên là Mahādeva, ngọn núi là Devakūṭa, và vị Sát-đế-lỵ là Abhaya ở trong thành Abhaya trên hòn đảo Ojadīpa.

38/-
Nagaraṃ kadambakokāse nadīto āsi māpitaṃ,
suvibhattaṃ dassaneyyaṃ ramaṇīyaṃ manoramaṃ.

Thành phố đã được kiến tạo cạnh bờ sông trong khu vực Kadambaka, và khéo được phân bố, đáng nhìn, xinh đẹp, lộng lẫy.

39/-
Puṇṇakanarako nāma pajjaro āsi kakkhalo,
jano saṃsayamāpanno macchāva kumināmukhe.

Có cơn sốt khủng khiếp tên là Puṇṇakanaraka đã xảy ra và dân chúng đã bị hoang mang giống như những con cá ở nơi miệng lưới.

40/-
Buddhassa ānubhāvena pakkanto pajjaro tadā,
desite amate dhamme sāsane ca patiṭṭhite.

41/-
Caturāsītisahassānaṃ dhammābhisamayo ahu,
paṭiyārāmo tadā āsi dhammakarakacetiyaṃ.

Khi ấy, do nhờ năng lực của đức Phật cơn sốt đã biến mất. Khi Pháp Bất Tử được thuyết giảng và Giáo Hội được thiết lập là thời điểm chứng ngộ Giáo Pháp của tám mươi bốn ngàn người. Khi ấy đã có tu viện Paṭiyārāma và bảo tháp Dhammakaraka (thờ vật dụng lọc nước).

42/-
Bhikkhusahassaparivuto mahādevo mahiddhiko,
pakkanto ca jino tamhā sayamev’aggapuggalo’ti.

Vị Mahādeva có đại thần lực được tháp tùng bởi một ngàn vị tỳ khưu. Và đấng Chiến Thắng đã rời khỏi nơi ấy, chính vị ấy là bậc “Tối Thượng Nhân.”

43/-
Imaṃ passati sambuddho konāgamano mahāmuni,
tiṃsabhikkhusahassehi samantā parivārito.

Là vị đại hiền triết được tháp tùng xung quanh bởi ba mươi ngàn vị tỳ khưu, đấng Chánh Đẳng Giác Konāgamana đã quan sát nơi này.

44/-
Dasasahasse sambuddho karuṇaṃ pharati cakkhumā.
varadīpe mahāvīro dukkhite passati nare.

Bậc Chánh Đẳng Giác, đấng Hữu Nhãn, đã phát tâm bi mẫn trong mười ngàn (thế giới). Đấng Đại Hùng đã nhìn thấy chúng sanh ở hòn đảo Varadīpa đang chịu khổ đau.

45/-
Tamhi dīpe pabodhetuṃ bodhaneyye mahājane,
buddharaṃsānubhāvena ādicco padumaṃ yathā.

Nhờ vào năng lực hào quang của vị Phật, Ngài đã thức tỉnh đám đông người có khả năng giác ngộ ở trên hòn đảo ấy, tương tợ như mặt trời đánh thức đóa hoa sen.

46/-
Tiṃsabhikkhusahassehi sambuddho parivārito,
abbhuṭṭhito va suriyo varadīpe patiṭṭhito.

Được tháp tùng bởi ba mươi ngàn vị tỳ khưu, đấng Chánh Đẳng Giác đã ngự ở hòn đảo Varadīpa, giống như mặt trời mọc.

47/-
Konāgamano nāma jino samantakūṭapabbato,
dīpe vāsi vaḍḍhamāne samiddho nāma khattiyo.

Đấng Chiến Thắng có tên là Konāgamana, ngọn núi là Samantakūṭa, vị Sát-đế-lỵ là Samiddha cư ngụ tại Vaḍḍhamāna ở trên hòn đảo.

48/-
Dubbuṭṭhiyo tadā cāsuṃ dubbhikkhe bhayapīḷite,
dubbhikkhadukkhite satte macchā vappodake yathā.

Và khi ấy, có những cơn hạn hán. Trong lúc bị đọa đày vì nỗi hoảng sợ trong cảnh đói kém, chúng sanh bị khốn khổ vì thiếu thức ăn giống như những con cá ở nguồn nước cạn.

49/-
Āgate lokanāthe ca devo sammābhivassati,
khemo cāsi janapado assāsesi bahujjane.

Khi vị Lãnh Đạo của thế gian đi đến, vị trời đã làm mưa đúng thời, dân cư trở nên an ổn, và Ngài đã an ủi nhiều người.

50/-
Tissatalākasāmante nagare dakkhiṇāmukhe,
vihāro uttarārāmo kāyabandhanacetiyaṃ.

Ở lối vào phía nam trong thành phố kề cận hồ Tissa, có tu viện Uttarārāmo là điện thờ Kāyabandhanacetiya (nơi thờ sợi dây thắt lưng của đức Phật).

51/-
Caturāsītisahassānaṃ dhammābhisamayo ahū,
desite amate dhamme suriyo udito yathā.

Khi Pháp Bất Tử được thuyết giảng, ví như mặt trời đã mọc lên, là thời điểm chứng ngộ Giáo Pháp của tám mươi bốn ngàn người.

52/-
Bhikkhusahassa parivutto mahāsumano patiṭṭhito,
pakkanto cāsi mahāvīro sayamev’aggapuggalo’ti.

Được tháp tùng bởi một ngàn vị tỳ khưu, đấng Đại Hùng Mahāsumana đã trụ lại rồ đã ra đi, chính vị ấy là bậc “Tối Thượng Nhân.”

53/-
Imaṃ passati sambuddho kassapo lokanāyako,
vīsatibhikkhusahassehi samantā parivārito.

Là vị lãnh đạo thế gian được tháp tùng bởi hai mươi ngàn vị tỳ khưu ở xung quanh, đấng Chánh Đẳng Giác Kassapa (đã) quan sát nơi này.

54/-
Kassapo ca lokavidū voloketi sadevakaṃ,
buddhacakkhuvisuddhena bodhaneyye ca passati.

Và đấng Thông Suốt Thế Gian Kassapa bằng Phật Nhãn thanh tịnh (đã) xem xét luôn cả thế giới chư thiên và nhận ra những ai có khả năng giác ngộ.

55/-
Kassapo ca lokavidū āhutīnaṃ paṭiggaho,
pharaṃ mahākaruṇāya vivādena passati pakuppite.

Và đấng Thông Suốt Thế Gian Kassapa, người thọ nhận những vật cúng dường, (đã) phát khởi lòng bi mẫn quảng đại và nhìn thấy những kẻ bị sân hận vì tranh cãi.

56/-
Maṇḍadīpe bahū satte bodhaneyye ca passati,
buddharaṃsānubhāvena ādicco padumaṃ yathā.

Nhờ vào năng lực hào quang của vị Phật, Ngài nhìn thấy được vô số chúng sanh có khả năng giác ngộ ở trên hòn đảo Maṇḍadīpa, tương tợ như mặt trời chiếu rọi đóa hoa sen,

57/-
Gacchissāmi maṇḍadīpaṃ jotayissāmi sāsanaṃ,
patiṭṭhapemi sammābhaṃ andhakāraṃva candimā.

(Ngài Kassapa đã nghĩ rằng): “Ta sẽ đi đến Maṇḍadīpa. Ta sẽ làm rạng rỡ Giáo Pháp. Ta sẽ tạo ra vầng hào quang hoàn hảo giống như mặt trăng trong đêm tối.”

58/-
Bhikkhugaṇaparivuto ākāse pakkamī jino,
patiṭṭhito maṇḍadīpe suriyo abbhuṭṭhito yathā.

Được tháp tùng bởi hội chúng tỳ khưu, đấng Chiến Thắng đã ra đi trong không trung rồi đã ngự đến hòn đảo Maṇḍadīpa, tương tợ như mặt trời mọc lên.

59/-
Kassapo sabbanando ca subhakūṭo ca pabbato,
visālaṃ nāma nagaraṃ jayanto nāma khattiyo.

Ngài Kassapa có tên là Sabbananda, ngọn núi là Subhakūṭa, thành phố là Visāla, và vị Sát-đế-lỵ tên là Jayanta.

60/-
Khematalākasāmante nagare pacchime mukhe,
vihāro pācīnārāmo cetiyaṃ dakasāṭakaṃ.

Ở lối vào phía tây trong thành phố lân lận với hồ Khema, có tu viện Pācīnārāma là điện thờ Dakasāṭaka (nơi thờ vải choàng tắm).

61/-
Assāsetvāna sambuddho katvā samaggabhātuke,
desesi amataṃ dhammaṃ patiṭṭhapesi sāsanaṃ.

Sau khi đã an ủi và khiến cho các anh em đoàn kết lại, đấng Chánh Đẳng Giác đã giảng giải Pháp Bất Tử và đã thiết lập Giáo Hội.

62/-
Desite amate dhamme patiṭṭhite ca sāsane,
caturāsītisahassānaṃ dhammābhisamayo ahū.

Khi Pháp Bất Tử được giảng giải và Giáo Hội được thiết lập là thời điểm chứng ngộ Giáo Pháp của tám mươi bốn ngàn người.

63/-
Bhikkhugaṇaparivuto sabbanando mahāyaso,
patiṭṭhito maṇḍadīpe pakkanto lokanāyako’ti.

Được tháp tùng bởi hội chúng tỳ khưu, đấng “Lãnh Đạo Thế Gian Sabbananda là vị có danh tiếng lẫy lừng đã an trú ở tại hòn đảo Maṇḍadīpa và đã ra đi”

64/-
Ayaṃ hi loke buddho uppanno lokanāyako,
sattānaṃ anukampāya desesi dhammamuttaṃ.

Chính đức Phật này là đấng Lãnh Đạo Thế Gian xuất hiện ở thế gian. Vì lòng thương tưởng chúng sanh Ngài đã thuyết giảng Giáo Pháp cao thượng.

65/-
S’etaṃ passati sambuddho lokajeṭṭho narāsabho,
nāgānamāsi sagghāmo mahāsenā samāgatā.

Ngài là đấng Chánh Đẳng Giác, bậc Tối Thượng ở đời, chúa tể của nhân loại, là vị có uy tín đã nhìn thấy các loài rồng ấy với đoàn quân đông đảo đã tụ hội lại.

66/-
Dhūmāyanti pajjalanti verāyanti caranti te,
mahabbhayaṃ samuppattaṃ dīpaṃ nāsenti pannagā.

Lũ rồng ấy tỏa khói, phun lửa, thù hằn, tạo nên nỗi lo sợ khủng khiếp khiến làm cho hòn đảo đã được thành tựu bị hủy hoại.

67/-
Āgamā ekībhūto’va gacchāmi dīpam uttamaṃ,
mātulaṃ bhāgineyyaṃ ca nibbāpessāmi pannage.

Ngài đã đi đến chỉ có một mình (nghĩ rằng): “Ta sẽ đi đến hòn đảo tối thắng và sẽ hòa giải các con rồng cậu và cháu.

68/-
Ahaṃ gotamasambuddho pabbate cetināmake,
anurādhapure ramme tisso nāmāsi khattiyo.

Ta là đấng Chánh Đẳng Giác Gotama, ngọn núi có tên là Cetiya, ở trong thành Anurādhapura xinh đẹp có vị Sát-đế-lỵ tên là Tissa.”

69/-
Kusinārāyaṃ bhagavā mallānamupavattane,
anupādisesā buddho nibbuto upadhikkhaye.

Ở Kusinārā, tại (khu rừng) Upavattana của xứ Malla, đức Phật khi đã cạn kiệt mầm tái sanh đã Niết Bàn không còn dư sót.

70/-
Vasse dvisatā’tīte chattiṃsa ca vassake tathā,
mahindo nāma nāmena jotayissati sāsanaṃ.

(Đức Phật đã xác định rằng): “Như thế, khi đã trải qua hai trăm ba mươi sáu năm, vị có tên là Mahinda sẽ làm rạng rỡ Giáo Pháp.

71/-
Nagarassa dakkhiṇato bhūmibhāge manorame,
ārāmo ca ramaṇīyo thūpārāmo’ti suyyare.

Ở khuôn viên vùng đất hữu tình thuộc khu vực phía nam của thành phố sẽ có tu viện xinh xắn tên là ‘Thūpārāma.’

72/-
Tambapaṇṇīti nāmena dīpo cāyam bhavissati,
sārīrikā mama dhātuṃ patiṭṭhissaṃ sādhukaṃ.

Và hòn đảo này sẽ có tên là Tambapaṇṇi. Xá-lợi di thể của ta sẽ được an trí một cách tốt đẹp.”

73/-
Buddhe pasannā dhamme ca saṅghe ca ujudiṭṭhikā,
bhave cittaṃ virājeti anulā nāma khattiyā.

Nữ Sát-đế-lỵ tên Anulā là có niềm tin với đức Phật, đức Pháp, đức Tăng, có tri kiến đúng đắn, và đã đoạn trừ tâm (vướng mắc) trong hiện hữu.

74/-
Deviyā vacanaṃ sutvā rājā theraṃ id’abravī,
buddhe pasannā dhamme ca saṅghe ca ujudiṭṭhikā.

Nghe được lời nói của hoàng hậu, đức vua đã nói với vị trưởng lão điều này: “Hoàng hậu có niềm tin với đức Phật, đức Pháp, đức Tăng, và có tri kiến đúng đắn.

75/-
Bhave cittaṃ virājeti pabbājetha anūlakaṃ,
akappiyā mahārāja thita’pabbajā bhikkhuno.

Nàng đã đoạn trừ tâm (vướng mắc) trong hiện hữu. Xin ngài hãy xuất gia cho nàng Anulā.” (Ngài Mahinda): “Tâu đại vương, việc xuất gia (cho hoàng hậu) được thực hiện bởi các vị tỳ khưu là không đúng phép.

76/-
Āgamissati me rāja bhaginī saṅghamittakā,
pabbājetvāna mocetuṃ anulaṃ sabbabandhanā.

Tâu bệ hạ, em gái của tôi là Saṅghamittā sẽ đi đến để cho (hoàng hậu) Anulā xuất gia và để giải thoát (hoàng hậu) khỏi mọi sự trói buộc.

77/-
Saṅghamittā mahāpaññā uttarā ca vicakkhaṇā,
hemā ca māsagallā ca aggimittā mitāvadā.

Saṅghamittā có đại trí tuệ, Uttarā thông minh, Hemā, Māsagallā, và Aggimittā nói năng khiêm tốn.

78/-
Tappā pabbatachinnā ca mallā ca dhammadāsikā,
ettakā tā bhikkhuniyo dhutarāgā samāhitā.

Tappā, Pabbatachinnā, Mallā, Dhammadāsikā, các vị tỳ khưu ni ấy đều đoạn lìa ái dục, được định tĩnh.

79/-
Odātamanasaṅkappā saddhammavinaye ratā,
khīṇāsavā vasippattā tevijjā iddhikodidā.

(Các vị ni ấy có) tâm tư thanh tịnh, thỏa thích trong Chánh Pháp và Luật, các lậu hoặc đã cạn kiệt, thành tựu sự thu thúc, có tam minh, và thuần thục về thần thông.

80/-
Uttamante ṭhitā tattha āgamissanti tā idha,
mahāmaccaparivuto nisinno khattiyo tadā.

Các vị ni ấy đã an trú vào vị thế tối thượng ở tại nơi ấy và sẽ đi đến nơi đây.” Được tùy tùng bởi các quan đại thần, khi ấy vị Sát-đế-lỵ đã ngồi xuống.

81/-
Mantitukāmo nisīditvā maccānaṃ etadabravī,
ariṭṭho nāma khattiyo sutvā devassa bhāsitaṃ.

Với ý định thỉnh mời (các vị tỳ khưu ni), sau khi ngồi xuống đức vua đã nói với các vị quan đại thần điều ấy. Vị Sát-đế-lỵ tên là Ariṭṭha đã lắng nghe lời nói của đức vua.

82/-
Therassa vacanaṃ sutvā uggahetvāna sāsanaṃ,
dāyakaṃ anusāsetvā pakkami uttarāmukho.

Sau khi lắng nghe lời nói của vị trưởng lão, vị ấy đã ghi nhớ lời dặn dò, đã nhắn nhủ người cung cấp, rồi đã ra đi về hướng bắc.

83/-
Nagarass’ekadesamhi gharaṃ katvāna khattiyā,
dasasīlaṃ samādinnā anulā pamukhā ca tā.

Có hoàng hậu Anulā lãnh đạo, các nữ Sát-đế-lỵ ấy đã thiết lập nhà ở tại một khu vực của thành phố, đã thọ trì mười học giới.

84/-
Sabbā pañcasatā kaññā abhijātā jutindharā,
anulaṃ parivāretvā sāyaṃ pāto upaṭṭhisuṃ.

Toàn thể năm trăm công nương xuất thân cao quý, thông minh, đều quây quần hiện diện sáng tối bên Anulā.

85/-
Nāvatitthamupagantvā āropetvāna nāvakaṃ,
sāgaraṃ samatikkanto thale patvā patiṭṭhito.

Sau khi đi đến bến tàu, Ariṭṭha đã lên thuyền, vượt qua biển khơi, rồi đã cập bến, và đứng ở trên đất liền.

86/-
Viñjhāṭaviṃ atikkanto mahāmacco mahabbalo,
pāṭaliputtānuppatto gato devassa santikaṃ.

Sau khi vượt qua khu rừng ở rặng núi Viñjha, vị quan đại thần có nhiều quyền lực đã đến được thành Pāṭaliputta gặp được đức vua (xứ Jambudīpa).

87/-
Putto deva mahārāja ahū yo piyadassano,
mahindo nāma so thero pesito tava santikaṃ.

Tâu đại vương, phải chăng là ngài Piyadassana? Vị trưởng lão ấy tên là Mahinda, tức là người con trai của bệ hạ, đã phái thần đi đến gặp ngài.

88/-
Devānampiyo rājā sahāyo piyadassano,
buddhe abhippasanno so pesito tava santikaṃ.

Thưa ngài Piyadassana, đức vua Devānampiya là bạn của ngài đã vững tin vào đức Phật, vị ấy đã phái thần đi đến gặp ngài.”

89/-
Bhātuko saṅghamittāya avacīdaṃ mahā isi,
rājakaññā suppasannā anulā nāma khattiyā.

(Nói với tỳ khưu ni Saṅghamittā): “Vị đại ẩn sĩ là người anh trai của Saṅghamittā đã nói điều này: ‘Người con gái của đức vua tên là Anulā là nữ Sát-đế-lỵ đã tròn đủ niềm tin.

90/-
Sabbā taṃ apalokenti pabbajjāya purakkhakā,
bhātuno sāsanaṃ sutvā saṅghamittā vicakkhaṇā.

91/-
Turitā upasaṅkamma rājānaṃ idamabravī,
anujāna mahārāja gacchāmi dīpalaṅkataṃ.

Hết thảy những người nữ quý phái đều trông mong ni sư về việc xuất gia.’” Sau khi nghe được lời nhắn của người anh trai, Saṅghamittā khôn khéo đã nhanh chóng đi đến gặp đức vua và nói lời này: “Tâu đại vương, xin ngài hãy chấp thuận. Thần sẽ đi đến hòn đảo Laṅkā.

92/-
Bhātuno vacanaṃ mayhaṃ na sakkā deva vārituṃ,
bhāgineyyo ca sumano putto ca jeṭṭhabhātuko.

Tâu bệ hạ, lời nói của người anh trai của thần là không thể ngăn cản.” (Đức vua): “Người cháu trai Sumana và người con trai (của trẫm) tức là người anh trai lớn (của con).

93/-
Gatā tava piyodāni gamanaṃ vāremi dhītuyā,
bhāriyaṃ me mahārāja bhātuno vacanaṃ mama.

Các người yêu quý của con đã đi rồi. Giờ đây, trẫm ngăn cản việc ra đi của con gái trẫm.” (Saṅghamittā): “Tâu đại vương, lời nói của anh trai con đối với con là quan trọng.

94/-
Rājakaññā mahārāja anulā nāma khattiyā,
sabbā maṃ apalokenti pabbajjāya purakkhakā.

Tâu đại vương, người con gái của đức vua tên Anulā là nữ Sát-đế-lỵ. Hết thảy những người nữ quý phái đều trông mong con về việc xuất gia.”

Pañcadasamo paricchedo.
Chương thứ mười lăm.

Bhāṇavāraṃ paṇṇarasamaṃ.
Dứt tụng phẩm thứ mười lăm.

--ooOoo--

SOḶASAMO PARICCHEDO
CHƯƠNG THỨ MƯỜI SÁU

1/-
Caturaṅginiṃ mahāsenaṃ sannayhitvāna khattiyo,
tathāgatassa sambodhiṃ ādāya pakkami tadā.

Khi ấy, sau khi tập hợp đội binh hùng hậu gồm bốn loại binh chủng, vị Sát-đế-lỵ đã cầm lấy nhánh cây Bồ Đề của đức Như Lai rồi ra đi.

2/-
Tīsu rajjāni’tikkanto viñjhaṭaviṃ ca khattiyo,
atikkanto mahāraññaṃ anuppatto mahaṇṇavaṃ.

Vị Sát-đế-lỵ đã vượt qua ba vương quốc và khu rừng Viñjha, rồi đã băng qua khu rừng lớn và đến được đại dương.

3/-
Caturaṅginī mahāsenā bhikkhunīsaṅghasāvikā,
mahāsamuddaṃ pakkantā ādāya bodhimuttamaṃ.

Đội binh hùng hậu gồm bốn loại binh chủng và các Thinh Văn đệ tử thuộc hội chúng tỳ khưu ni đã mang theo cây Bồ Đề tối thượng và đang tiến về phía biển cả.

4/-
Upari dibbaṃ turiyaṃ heṭṭhato ca manussakaṃ,
cātuddisaṃ mānusikaṃ pakkantaṃ jalasāgare.

Ở bên trên có âm nhạc thiên đình, ở bên dưới là (âm nhạc) thuộc về nhân loại. Và trong khi khởi hành ở trên mặt biển, có âm nhạc của loài người ở khắp bốn phương.

5/-
Muddhani avaloketvā khattiyo piyadassano,
abhivādayitvā bodhiṃ imamatthaṃ abhāsatha.

Vị Sát-đế-lỵ Piyadassano đã quán tưởng ở trên đỉnh đầu rồi đã đảnh lễ cội Bồ Đề, và đã nói lên ý nghĩa này:

6/-
Bahussuto iddhimanto sīlavā susamāhito,
dassane kampiyaṃ mayhaṃ atappeyyaṃ mahājanaṃ.

Người thông thái, có thần thông, có giới hạnh, và khéo định tĩnh có thể không được hài lòng trong việc nhìn thấy trẫm là nhân vật quan trọng lại tỏ vẻ chao động.”

7/-
Tattha kanditvā roditvā oloketvāna dassanaṃ,
khattiyo paṭinivattitvā agamā sakanivesanaṃ.

Tại đó, sau khi đã than vãn, khóc lóc, rồi nhìn xem quang cảnh, vị Sát-đế-lỵ đã quay trở về và đi đến cung điện của mình.

8/-
Udake nimmitā nāgā devākāse ca nimmitā,
rukkhe ca nimmitā devā nāgā nivesanampi ca.

9/-
Parivārayiṃsu te sabbe gacchantaṃ bodhimuttamaṃ,
amanāpā pisācā ca bhūtakumbhaṇḍarakkhasā.

Các loài rồng ngự ở trong nước, chư thiên ngự ở trên không trung, chư thiên ngự ở trên cây, các loài rồng ở long cung, các loài hung thần khó chịu, và các hạng Thổ thần, Mộc thần, dạ-xoa, tất cả các hạng ấy đã tụ lại xung quanh cội Bồ Đề tối thượng đang ra đi.

10/-
Bodhiṃ paccantamāyantaṃ parivāriṃsu mānusā,
tāvatiṃsā ca yāmā ca tusitāpi ca devatā.

11/-
Nimmānaratino devā ye devā vasavattino,
bodhiṃ paccantamāyantaṃ tuṭṭhahaṭṭhā pamoditā.

Dân chúng đã tụ tập quanh cội Bồ Đề đang tiến đến gần. Chư thiên ở các cõi Tāvatiṃsa (Đạo Lợi), cõi Yāma (Dạ Ma), và cõi Tusitā (Đẩu Suất) nữa, chư thiên ở cõi Nimmānarati (Hóa Lạc Thiên), chư thiên ở cõi Vasavattī (Tha Hóa Tự Tại) vui vẻ, mừng rỡ, hoan hỷ khi cội Bồ Đề đang tiến đến khu vực lân cận.

12/-
Tettiṃsā ca devaputtā sabbe indapurakkhakā,
bodhiṃ paccantamāyantaṃ apphoṭhenti bhujampi ca.

Tất cả các vị thiên tử ở cõi Đạo Lợi có thần Indra đứng đầu cũng đã vỗ tay khi cội Bồ Đề tiến đến gần.

13/-
Kuvero dhataraṭṭho ca virūpakkho virūḷhako,
cattāro te mahārājā samantā caturodisā.

14/-
Parivārayiṃsu sambodhiṃ gacchantaṃ dīpalaṅkataṃ,
mahāmukhapaṭahārā divillātatadindimā.

Bốn vị Đại Thiên Vương Kuvera, Dhataraṭṭha, Virūpakkha, và Virūḷhaka ở bốn phương xung quanh đã hội tụ quanh cội Bồ Đề đang ngự đến hòn đảo Laṅkā.[2]

15/-
Bodhiṃ paccantamāyantaṃ sādhu kīlanti devatā,
pāricchattakapupphaṃ ca dibbamandāravampi ca.

16/-
Dibbacandanacuṇṇaṃ ca antalikkhe pavassati,
bodhiṃ paccantamāyantaṃ pūjayanti ca devatā.

Khi cội Bồ Đề đang tiến đến khu vực lân cận, chư thiên hò reo “Sādhu, lành thay!” và làm rơi xuống cơn mưa (gồm có) bột gỗ trầm hương của cõi trời, bông hoa san hô, và hoa Mạn-đà-la của thiên đình. Và chư thiên đã bày tỏ sự cung kính khi cội Bồ Đề đang tiến đến gần.

17/-
Campakā saraḷā nimbā nāgapunnāgaketakī,
jalaṇṇave mahābodhiṃ devā pūjenti satthuno.

Chư thiên cúng dường các loại hoa campaka, hoa saraḷā, hoa nimba, hoa nāga, hoa punnāga, và hoa ketakī đến cội Đại Bồ Đề của bậc Đạo Sư ở trên biển cả.

18/-
Nāgarājā nāgakaññā nāgapotā bahujjanā,
bhavanato nikkhamitvā pūjenti bodhimuttamaṃ.

Các vị long vương, các long nữ, các long nhi, và nhiều người đã rời khỏi nơi trú ngụ và bày tỏ sự tôn vinh đến cội Bồ Đề tối thượng.

19/-
Nānāvirāgavasanā nānārāgavibhūsitā,
sāgare taṃ mahābodhiṃ nāgā pūjenti satthuno.

20/-
Uppalaṃ kumudaṃ nīlaṃ pupphaṃ ca satapattakaṃ,
kallahāraṃ kuvalayaṃ vimuttamadhugandhikaṃ.

Ở biển cả, các loài rồng mặc y phục nhiều màu và trang điểm với vật thể có màu sắc đa dạng đã cúng dường đến cội Đại Bồ Đề ấy của bậc Đạo Sư hoa sen hồng, hoa sen trắng, và hoa sen xanh có trăm cánh, hoa súng hồng và hoa súng trắng có hương thơm ngọt ngào tỏa ngát.

21/-
Takkārikaṃ koviḷāraṃ pāṭaliṃ bimbajālakaṃ,
asokaṃ sālapupphaṃ ca missakaṃ ca piyaṅgukaṃ.

Hoa takkārika, hoa koviḷāra, hoa kèn pāṭalī, hoa bimbajāla, hoa asoka, hoa sālā xen lẫn với hoa piyaṅgu.

22/-
Nāgā pūjenti te bodhiṃ sobhati jalasāgare,
āmoditā nāgakaññā nāgarājā pamoditā.

Các con rồng ấy đã cúng dường đến cội Bồ Đề ở trên mặt biển lấp lánh. Các long nữ vui mừng, các long vương phấn khởi.

23/-
Bodhiṃ paccantamāyantaṃ nāgā kīlanti satthuno,
tattha maṇimayā bhūmi muttāphalikasanthatā.

Các con rồng thích thú khi cội Bồ Đề của bậc Đạo Sư đang tiến đến khu vực lân cận. Tại nơi ấy, mặt đất làm bằng ngọc ma-ni được trải đều với các viên ngọc trai và ngọc pha-lê.

24/-
Ārāmapokkharaṇiyo nānāpupphehi vicittā,
sattāhakaṃ vasitvāna sadevā mānusā tahiṃ.

Các khu vườn và các hồ nước được tô điểm bằng vô số bông hoa. Nhân loại cùng với chư thiên đã cư ngụ tại nơi ấy bảy ngày.

25/-
Bhavanato nikkhamitvā pūjenti bodhimuttamaṃ,
mālādāmakalāpā ca nāgakaññā ca devatā.

Các long nữ và chư thiên rời khỏi chỗ trú ngụ và cúng dường tràng hoa, vòng hoa, chùm hoa đến cội Bồ Đề tối thượng.

26/-
Āvijjhanti ca celāni sambodhiṃ parivāritā,
bodhiṃ paccantamāyantaṃ sādhu kīḷanti devatā.

Họ múa tròn các sợi dây vải, quây quần quanh cội Bồ Đề. Chư thiên hò reo “Sādhu, lành thay!” khi cội Bồ Đề đang tiến đến khu vực lân cận.

27/-
Pāricchattakapupphaṃ ca dibbamandāravampi ca,
dibbacandanacuṇṇaṃ ca antalikkhe pavassati.

Họ đã làm rơi xuống cơn mưa (gồm có) bột gỗ trầm hương của cõi trời, bông hoa san hô, và hoa Mạn-đà-la của thiên đình.

28/-
Nāgā yakkhā ca bhūtā ca sadevā atha mānusā,
jalasāgaramāyantaṃ sambodhiṃ parivāritā.

Khi ấy, các loài rồng, các dạ-xoa, các loài hữu tình, chư thiên, và nhân loại đã vây quanh cội Bồ Đề đang tiến đến ở trên mặt biển.

29/-
Tattha naccanti gāyanti vādayanti hasanti ca,
bhujaṃ poṭhenti diguṇaṃ te bodhiparivāritā.

Tại nơi ấy, họ vây quanh cội Bồ Đề, nhảy múa, đàn ca, hát xướng, cười giỡn, và vỗ hai tay.

30/-
Nāgā yakkhā ca bhūtā ca sadevā atha mānusā,
kittenti maṅgalaṃ sotthiṃ nīyante bodhimuttame.

Và khi cội Bồ Đề tối thượng đang được rước đến, các loài rồng, các dạ-xoa, các loài hữu tình, chư thiên, và nhân loại thốt lên rằng: “Ôi điều tốt đẹp và may mắn!” .

31/-
Nāgā dhajapaggahitā nīlobhāsā manoramā,
kittenti bodhiṃ uttamaṃ patiṭṭhitaṃ dīpalañjake.

Các con rồng xinh đẹp tỏa ánh sáng xanh giương lên những ngọn cờ thông báo việc cội Bồ Đề tối thượng đã được thiết lập ở trên hòn đảo Laṅkā.

32/-
Anurādhapurā rammā nikkhamitvā bahūjanā,
sambodhiṃ upasaṅkantā saha devehi khattiyā.

Đám đông dân chúng, các vị Sát-đế-lỵ cùng với các vương phi đã rời khỏi thành Anurādhapura xinh đẹp và đang tiến đến gần cội Bồ Đề.

33/-
Parivārayiṃsu sambodhiṃ sahaputtehi khattiyā,
gandhamālaṃ ca pūjesuṃ gandhagandhānamuttamaṃ.

Các vị Sát-đế-lỵ cùng với những người con trai đã vây quanh cội Bồ Đề rồi đã cúng dường tràng hoa thơm và loại hương thơm hạng nhất trong số các loại hương thơm.

34/-
Vīthiyo ca susammaṭṭhā agghiyo ca alaṅkatā,
patiṭṭhite bodhirāje kampittha paṭhavī tadā ti.

Các con đường đã được quét dọn sạch sẽ và các vật quý giá đã được trưng bày. Khi cội Bồ Đề Vương đã được trồng xuống, lúc bấy giờ quả đất đã rúng động.

35/-
Dāpesi rājā aṭṭhaṭṭha khattiye ca pan’aṭṭhasu,
sabbajeṭṭhaṃ bodhiguttaṃ rakkhituṃ bodhimuttamaṃ.

Hơn nữa, đức vua đã ra lệnh phái đến tám nhóm tám vị Sát-đế-lỵ ở tại tám nơi để bảo vệ cội Bồ Đề tối thượng; việc gìn giữ cội Bồ Đề là quan trọng hơn tất cả.

36/-
Adā sabbaparihāraṃ sabbālaṅkārabhāsuraṃ,
soḷasātha mahālekhā dharaṇī bodhigāravā.

Đức vua đã ban cho mọi niềm vinh dự và tất cả các vật trang sức rực rỡ, sau đó đã thiết lập mười sáu đường vạch lớn ở trên mặt đất vì lòng tôn kính đến cội Bồ đề.

37/-
Tathā susiñcattharaṇaṃ mahālekhaṭṭhāne ṭhapi,
kulaṃ sahassakaṃ katvā ketuchādinvapālakaṃ.

Sau khi đã thực hiện việc rải rắc khéo léo và trải đều như thế tại vị trí của các đường vạch lớn, đức vua đã bổ nhiệm một ngàn gia đình làm người bảo quản và gìn giữ các ngọn cờ.

38/-
Suvaṇṇabheriyo aṭṭha abhisekādi maṅgale,
ekaṃ janapadaṃ datvā candaguttaṃ ṭhapesi ca.

39/-
Devaguttañca pāsādaṃ bhūmiñcekaṃ yathārahaṃ,
tesaṃ kulānamaññesaṃ gāmabhoge pariccaji.

Đức vua đã ban cho tám chiếc trống bằng vàng nhằm vào dịp lễ hội như là lễ đăng quang, một địa phương, và đã thiết lập đài quan sát mặt trăng, tòa lâu đài cho việc quan sát bầu trời, cùng với một vùng đất có giá trị tương xứng. Đức vua đã ban thưởng các nguồn lợi tức ở thôn làng đến các gia đình ấy và các gia đình khác.

40/-
Rañño pañcasatā kaññā aggajātā yasassinī,
pabbājiṃsu ca tā sabbā vītarāgā samāhitā.

Năm trăm công nương dòng dõi cao quý có danh tiếng đã xuất gia. Và tất cả các cô ấy đều dứt bỏ tham ái và định tĩnh.

41/-
Kumārikā pañcasatā anulāparivāritā,
pabbajiṃsu ca tā sabbā vītarāgā ahū tadā.

Năm trăm cung nữ tùy tùng hoàng hậu Anulā đã xuất gia. Và khi ấy, tất cả các cô ấy đều dứt bỏ tham ái.

42/-
Ariṭṭho khattiyo nāma nikkhanto ca bhayaddito,
pañcasataparivāro pabbaji jinasāsane.

Vị Sát-đế-lỵ tên Ariṭṭha đã được thoát khỏi nỗi dày vò vì sợ hãi cùng với đoàn tùy tùng năm trăm người đã xuất gia trong Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng.

43/-
Sabbevārahappattā sampuṇṇā jinasāsane,
hemante paṭhame māse pupphite dharaṇīruhe,
āgato so mahābodhi patiṭṭho tambapaṇṇike’ti.

Tất cả đều thành tựu A-la-hán quả và được hoàn thiện trong Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng. Vào tháng thứ nhất của mùa lạnh lúc cây cối trên trái đất đã nở hoa, cội Đại Bồ Đề ấy đã ngự đến và đã được thiết lập ở xứ sở Tambapaṇṇi.

Bhāṇavāraṃ soḷasamaṃ.
Tụng phẩm thứ mười sáu.

Soḷasamo paricchedo.
Chương thứ mười sáu.

--ooOo--

SATTARASAMO PARICCHEDO
CHƯƠNG THỨ MƯỜI BẢY

1/-
Battiṃsa yojanaṃ dīghaṃ aṭṭhārasahi vitthataṃ,
yojanānaṃ satāvaṭṭaṃ sāgarena parikkhitaṃ.

2/-
Laṅkādīpavaraṃ nāma sabbattha ratanākaraṃ,
upetaṃ nadītaḷākehi pabbatehi vanehi ca.

Hòn đảo cao quý tên là Laṅkā có chiều dài ba mươi hai do-tuần, chiều rộng mười tám do-tuần, chu vi một trăm do-tuần, có biển cả bao bọc xung quanh, có mỏ châu báu ở khắp nơi, được thiên nhiên ưu đãi với nhiều sông, hồ, núi, rừng.

3/-
Dīpaṃ puraṃ ca rājā ca uddesikañca dhātuyo,
thūpaṃ dīpaṃ pabbatañca uyyānaṃ bodhi bhikkhunī.

4/-
Bhikkhu ca buddhaseṭṭho ca terasa honti te tahiṃ,
ekadese catunnāmaṃ suṇātha mama bhāsato.

Mười ba chủ đề về xứ sở ấy là: hòn đảo, thành phố, đức vua, sự kiện nổi bật, các viên xá-lợi, ngôi bảo tháp, điểm tựa, núi non, vườn hoa, cội Bồ Đề, tỳ khưu ni, tỳ khưu, đức Phật tối thượng. Xin quý vị hãy lắng nghe lời tôi trình bày về mỗi một chủ đề (trong thời kỳ) của bốn vị Phật:

5/-
Ojadīpaṃ varadīpaṃ maṇḍadīpanti vuccati,
laṅkādīpavaraṃ nāma tambapaṇṇīti ñāyati.

Hòn đảo Laṅkādīpa cao quý được gọi là Ojadīpa, Varadīpa, Maṇḍadīpa, và được biết đến với tên là Tambapaṇṇi.

6/-
Abhayaṃ vaḍḍhamānaṃ ca visālamanurādhakaṃ,
purassetaṃ catunnāmaṃ catubuddhāna sāsane.

Abhaya, Vaḍḍhamāna, Visāla, Anurādhapura là bốn thành phố trong thời kỳ Giáo Pháp của bốn vị Phật.

7/-
Abhayo ca samiddho ca jayanto ca narādhipo,
devānampiyatisso ca rājāno honti cāturo.

Abhayo, Samiddho, vị chúa tể Jayanto, và Devānampiyatissa là bốn vị quân vương.

8/-
Rogadubbuṭṭhikaṃ c’eva vivādo yakkhavāsanā,
caturo upaddutā ete catubuddhavinoditā,
kakusandhassa buddhassa dhātvāsi dhammakārako.

Bốn điều khuấy rối là tật bệnh, nạn hạn hán, sự tranh cãi, việc cư ngụ của loài dạ-xoa, những điều này đã được bốn vị Phật diệt tận. Xá-lợi của đức Phật Kakusandha là vật dụng lọc nước.

9/-
Konāgamanabuddhassa dhātvāsi kāyabandhanaṃ,
kassapassa munindassa dhātvāsi jalasāṭikā.

Xá-lợi của đức Phật Konāgamana là dây thắt lưng. Xá-lợi của bậc Ẩn Sĩ Vương Kassapa là y choàng tắm.

10/-
Gotamassa sirīmato doṇaṃ sārīrikā ahū,
abhaye paṭiyārāmo vaḍḍhamānassa uttaro.

11/-
Visāle pācīnārāmo thūpārāmo’nurādhake,
dakkhiṇe caturothūpā catubuddhāna sāsane.

Và một phần (doṇa) di thể xá-lợi của đấng Quang Vinh Gotama. (Bảo tháp) Paṭiyārāma là ở tại Abhaya, Uttara ở vaḍḍhamāna, Pācīnārāmo ở Visāla, Thūpārāma ở Anurādhapura là bốn ngôi bảo tháp ở phía nam trong thời kỳ Giáo Pháp của bốn vị Phật.

12/-
Kadambakassa sāmantā nagaraṃ abhayampuraṃ,
tissataḷākasāmantā nagaraṃ vaḍḍhamānakaṃ.

Thành phố Abhayapura ở kề cận (hồ) Kalambaka, thành phố Vaḍḍhamānaka ở kề cận hồ Tissa.

13/-
Khemataḷākasāmantā visālaṃ nagaraṃ ahū,
anurādhapure tattha catuddīpavicāraṇā.

Thành phố Visāla ở kề cận hồ Khema. Ở xứ sở ấy, trong thành Anurādhapura có sự điều tra về bốn điểm tựa.

14/-
Devakūṭo sīlakūṭo subhakūṭo’ti vuccati,
sumaṇakūṭo cedāni catupaṇṇanti pabbate.

Và bốn ngọn núi gọi là Devakūṭa, Sīlakūṭa, Subhakūṭa, và Sumaṇakūṭa ngày nay ở tại núi Catupaṇṇa (Tứ Diệp).

15/-
Mahātitthavanuyyānaṃ mahānāmaṃ ca sāgaraṃ,
mahāmeghavanaṃ nāma vattetumariyāpathaṃ.

(Bốn) khu lâm viên Mahātittha, Mahānāma, Sāgaraṃ, Mahāmeghavana gọi là di tích của các Thánh Nhân lưu truyền lại.

16/-
Catunnaṃ lokanāthānaṃ paṭhamamāhu senāsanaṃ,
kakusandhassa munino sirīsabodhimuttamaṃ.

Sàng tọa đầu tiên của bốn vị Lãnh Đạo thế gian là: Cội cây Bồ Đề Sirīsa tối thượng của bậc ẩn sĩ Kakusandha.

17/-
Ādāya dakkhiṇaṃ sākhaṃ rucīnandā mahiddhikā,
ojadīpe mahātitthe ārāme tattha ropitā.

Vị ni Rucīnandā có đại thần lực đã mang đi nhánh cây ở hướng nam rồi trồng xuống ở nơi ấy, tại tu viện Mahātittha trên hòn đảo Ojadīpa.

18/-
Konāgamanabuddhassodumbaram bodhimuttamaṃ,
ādāya dakkhiṇaṃ sākhaṃ kandanandā mahiddhikā.

Cội cây Bồ Đề Udumbara tối thượng của đức Phật Konāgamana. Vị ni Kandanandā có đại thần lực đã mang đi nhánh cây ở hướng nam.

19/-
Varadīpe mahānāme ārāme tattha ropitā,
kassapassa munindassa nigrodhabodhimuttamaṃ.

Rồi trồng xuống ở nơi ấy, tại tu viện Mahānāma trên hòn đảo Varadīpa. Cội cây Bồ Đề Nigrodha tối thượng của vị Ẩn Sĩ Vương Kassapa.

20/-
Ādāya dakkhiṇaṃ sākhaṃ sudhammā ca mahiddhikā,
sāgare nāma ārāme ropitaṃ dumacetiyaṃ.

Và vị ni Sudhammā có đại thần lực đã mang đi nhánh cây ở hướng nam. Cội cây thiêng liêng đã được trồng xuống tại tu viện tên là Sāgara.

21/-
Gotamassa munindassa assatthabodhimuttamaṃ,
ādāya dakkhiṇaṃ sākhaṃ saṅghamittā mahiddhikā,
mahāmeghavane ramme ropitā dīpalañjake.

Cội cây Bồ Đề Assattha tối thượng của vị Ẩn Sĩ Vương Gotama. Vị ni Saṅghamittā có đại thần lực đã mang đi nhánh cây ở hướng nam rồi đã trồng xuống tại khu vườn Mahāmeghavana xinh đẹp ở trên hòn đảo Laṅkā.

22/-
Rucinandā kandanandā sudhammā ca mahiddhikā,
bahussutā saṅghamittā chaḷabhiññā vicakkhaṇā.

Rucinandā, Kandanandā, Sudhammā có đại thần lực, và vị đa văn Saṅghamittā có sáu thắng trí và sự sáng suốt.

23/-
Catasso tā bhikkhuniyo sabbā ca bodhimāharuṃ,
sirīso ca mahātitthe mahānāme udumbaro.

Tất cả bốn vị tỳ khưu ni ấy đều đã mang lại cây Bồ Đề: cây Sirīsa ở tại Mahātittha, cây Udumbara ở Mahānāma.

24/-
Mahāsāgaramhi nigrodho assattho meghavane tadā,
acale caturārāme catubodhi patiṭṭhitā.

Cây Nigrodha ở Mahāsāgara, cây Assattha ở Meghavana. Khi ấy, bốn cội Bồ Đề được an vị tại bốn tu viện ở trên núi.

25/-
Tattha senāsanaṃ rammaṃ catubuddhāna sāsane,
mahādevo chaḷabhiñño sumano paṭisambhido.

Xứ sở ấy có sàng tọa xinh đẹp trong thời kỳ Giáo Pháp của bốn vị Phật. Mahādeva là vị có sáu thắng trí, Sumana có tuệ phân tích.

26/-
Mahiddhiko sabbanando mahindo ca bahussuto,
ete therā mahāpaññā tambapaṇṇipasādakā.

Sabbananda có đại thần lực, và Mahinda là vị đa văn, các vị trưởng lão ấy có đại trí tuệ và là những người đem lại niềm tin cho xứ sở Tambapaṇṇi.

27/-
Kakusandho salokaggo pañcacakkhūhi cakkhumā,
sabbalokaṃ avekkhanto ojadīpavar’addasa.

Bậc Hữu Nhãn Kakusandha tối thượng ở thế gian, trong lúc dùng năm loại nhãn quan quán xét toàn bộ thế giới, đã nhìn thấy hòn đảo Ojadīpa.

28/-
Puṇṇakanarako nāma ahū pajjarako tadā,
dīpe tasmiṃ manussānaṃ rogo pajjarako ahū.

Khi ấy đã xảy ra cơn sốt tên là Puṇṇakanaraka. Cơn sốt là dịch bệnh của loài người ở trên hòn đảo ấy.

29/-
Bahujanā rogaphuṭṭhā bhantamacchā thale yathā,
ṭhitā socanti te sabbe dummanā dukkhitā narā.

Nhiều người đã bị mắc bệnh giống như những con cá giẫy giụa ở trên mặt đất. Tất cả những người đứng than vãn ấy đều là những người bị khổ đau và có trí tuệ tồi.

30/-
Bhayaṭṭitā na labbhanti cittamhi sukhamattano,
disvāna dukkhite satte rogābādhena pīḷite.

Bị hành hạ bởi nỗi sợ hãi, họ không thể đạt được trạng thái an lạc ở trong tâm. Đức Phật đã nhìn thấy chúng sanh bị hành hạ khổ sở bởi cơn dịch bệnh.

31/-
Cattālīsasahassehi kakusandho vināyako,
rogānaṃ mocanatthāya jambudīpā idhāgato.

Đấng Lãnh Đạo Kakusandha cùng với bốn mươi ngàn (vị tỳ khưu) đã từ Jambudīpa đi đến nơi đây nhằm mục đích diệt trừ các loại tật bệnh.

32/-
Cattālīsasahassā te chaḷabhiññā mahiddikā,
parivārayiṃsu sambuddhaṃ nabhe candaṃ va tārakā.

Bốn mươi ngàn vị ấy đều có sáu thắng trí và có đại thần lực đã tháp tùng bậc Chánh Đẳng Giác tương tợ như mặt trăng và các ngôi sao ở trên bầu trời.

33/-
Kakusandho lokanātho devakūṭamhi pabbate,
obhāsetvāna devañca patiṭṭhāsi sasāvako.

Ở tại hòn núi Devakūṭa, đấng Lãnh Đạo thế gian Kakusandha đã chiếu sáng cả bầu trời và đã cư ngụ cùng với các đệ tử.

34/-
Ojadīpe devakūṭaṃ obhāsetvā patiṭṭhitaṃ,
sabbe maññanti devova na jānanti tathāgataṃ.

Tất cả đều nghĩ rằng Ngài là vị thiên thần chứ không biết đức Như Lai đã chiếu sáng ngọn núi Devakūṭa trên hòn đảo Ojadīpa rồi mới an trú.

35/-
Udentaṃ aruṇuggamhi puṇṇamāyaṃ uposathe,
ujjālesi ca taṃ selaṃ lokanātho sakānanaṃ.

Vào ngày trăng tròn là ngày lễ Uposatha, khi rạng đông đang mọc lên, vị Lãnh Đạo thế gian đã làm rực sáng hòn núi ấy luôn cả khu rừng nữa.

36/-
Disvā selaṃ jalamānaṃ obhāsentaṃ catuddisaṃ,
tuṭṭhahaṭṭhā janā sabbe sarājā abhaye pure.

Sau khi nhìn thấy hòn núi rực cháy và chói sáng cả bốn phía, toàn thể dân chúng luôn cả đức vua ở trong thành Abhaya đã vui mừng hớn hở.

37/-
Sasāvakaṃ maṃ passantu ojadīpaṭṭhitā ime,
iti buddho adhiṭṭhāsi kakusandho vināyako.

Đức Phật, vị Lãnh Đạo Kakusandha, đã chú nguyện rằng: Những người cư ngụ ở hòn đảo Ojadīpa này hãy trông thấy ta và các đệ tử.”

38/-
Sammato devakūṭoti manussehyabhipatthito,
upaddave pajjarake manussā balavāhanā.

Ngọn núi Devakūṭa được mọi người kính trọng và ngưỡng mộ. Dân chúng và lực lượng binh lính đang trong cơn khốn khổ và tật bệnh.

39/-
Nikkhamitvā janā sabbe sarājā abhayapurā,
tattha gantvā namassanti kakusandhaṃ naruttamaṃ.

Tất cả mọi người cùng với đức vua đã rời khỏi thành phố Abhaya. Sau khi đi đến nơi ấy, họ đã đảnh lễ vị Tối Thượng Nhân Kakusandha.

40/-
Namassitvāna sambuddhaṃ rājasenā saraṭṭhakā,
devo’ti taṃ maññamānā āgatā te mahājanā.

Đoàn quân của đức vua và cư dân trong xứ sở đã đảnh lễ đấng Chánh Đẳng Giác. Trong lúc nghĩ rằng vị ấy là “Thiên Thần,” đám đông người ấy đã tiến lại.

41/-
Upasaṅkamma sambuddhaṃ idaṃ vacanambravuṃ,
adhivāsetu me bhagavā saddhiṃ bhikkhugaṇena ti.

Sau khi đến gần, họ đã nói lời này với đấng Chánh Đẳng Giác: “Xin đức Thế Tôn cùng với hội chúng tỳ khưu chấp nhận (lời mời của) con.

42/-
Ajjatanāya bho bhattaṃ gacchāma nagaraṃ mayaṃ,
adhivāsesi sambuddho tuṇhī rājassa bhāsitaṃ.

Thưa ngài, về bữa ăn của ngày hôm nay thì chúng ta hãy đi vào thành phố.” Đấng Chánh Đẳng Giác đã im lặng chấp nhận lời mời của đức vua.

43/-
Saraṭṭhakā rājasenā viditvā adhivāsanaṃ
pūjāsakkārabahūte kātuṃ puramupāgamuṃ.

Sau khi nhận biết sự nhận lời, đoàn quân của đức vua và dân cư trong xứ sở đã thể hiện nhiều sự tôn vinh và kính trọng rồi đã trở về thành phố.

44/-
Mahā ayaṃ bhikkhusaṅgho janakāyo anappako,
nagaraṃ atisambādhaṃ akatā bhūpurā mayā.

(Đức vua suy nghĩ rằng): “Hội chúng tỳ khưu này là đông đảo, đám dân chúng không phải là ít, thành phố quá chật chội, ta không thể thực hiện ở khuôn viên thành phố.

45/-
Atthi mayhaṃ vanuyyānaṃ mahātitthaṃ manoramaṃ,
asambādhaṃ adūraṭṭhaṃ pabbajitānulomikaṃ.

Ta có khu lâm viên Mahātittha xinh xắn, không đông đúc, không xa, thích hợp với các vị xuất gia.

46/-
Paṭisallānasāruppaṃ paṭirūpaṃ mahesino,
tatthāhaṃ buddhapamukhe saṅghe dassāmi dakkhiṇaṃ.

Thuận tiện cho việc thiền tịnh, xứng đáng với bậc Đại Ẩn Sĩ. Ta sẽ dâng cúng phẩm vật đến hội chúng có đức Phật đứng đầu ở tại nơi ấy.

47/-
Sabbo jano supasseyya buddhaṃ saṅghañca uttamaṃ,
cattālīsasahassehi bhikkhūhi saṃpurakkhato.

Toàn thể dân chúng có thể nhìn thấy rõ ràng đức Phật và hội chúng tối thượng.” Đức Phật được tháp tùng bởi bốn mươi ngàn vị tỳ khưu.

48/-
Kakusandho lokavidū mahātitthamapāpuṇi,
patiṭṭhite mahātitthe uyyāne dipaduttame.

49/-
Sañchannākālapupphehi mandena calitā dumā,
suvaṇṇamayabhiñkāraṃ samādāya mahīpati.

Đấng Thông Suốt Thế Gian Kakusandha đã đi đến Mahātittha. Và khi bậc Tối Thượng Nhân đã ngự đến khu vườn Mahātittha, các thân cây với các bông hoa sái mùa bao phủ đã khe khẽ rúng động. Đức vua đã cầm lấy bình rưới nước làm bằng vàng.

50/-
Onojetvāna taṃ tattha jalaṃ hatthe akārayi,
im’āhaṃ bhante uyyānaṃ dadāmi buddhapāmukhe.

Tại nơi ấy, đức vua đã rưới nước ấy ở trên tay (đức Phật) và nói rằng: “Bạch Ngài, trẫm xin cúng dường khu vườn này đến hội chúng có đức Phật đứng đầu.

51/-
Phāsuvihāraṃ saṅghassa rammaṃ senāsanaṃ subhaṃ,
paṭiggahesi uyyānaṃ kakusandho vināyako.

(Khu vườn) là chỗ trú ngụ tốt đẹp xinh xắn và là nơi sống thoải mái cho hội chúng.” Đấng Lãnh Đạo Kakusandha đã nhận lãnh khu vườn.

52/-
Pakampi dharaṇī tattha paṭhame senāsane tadā,
disvā paṭhavikampetaṃ ṭhito lokagganāyako.

Tại nơi ấy, quả đất đã rúng động. Khi ấy là trú xứ thứ nhất. Nhìn thấy sự rúng động của trái đất, vị Lãnh Đạo thế gian đã đứng yên.

53/-
Aho nūna rucinandā bodhiṃ hareyya cintayī,
kakusandhassa buddhassa cittamaññāya bhikkhunī.

Và Ngài đã suy nghĩ rằng: “Ồ, đương nhiên là Rucinandā sẽ mang cội Bồ Đề đến!” Vị tỳ khưu ni đã nhận biết được tâm ý của đức Phật Kakusandha.

54/-
Gantvā sirīsasambodhimūle ṭhatvā mahiddhikā,
buddho icchati bodhissa ojadīpamhi rohanaṃ.

Vị ni có đại thần lực đã đi đến và đứng ở gốc cây Bồ Đề Sirīsa (nghĩ rằng): Đức Phật mong muốn sự phát triển của cội Bồ Đề ở hòn đảo Ojadīpa.”

55/-
Manusā cintayantā taṃ bodhiṃ haritumāgatā,
buddhaseṭṭhenānumataṃ anukampāya pāṇinaṃ.

Dân chúng đang suy nghĩ và đi đến để rước cội cây Bồ Đề ấy là vật được đức Phật tối thượng chấp thuận vì lòng thương tưởng chúng sanh.

56/-
Mama iddhānubhāvena sākhā dakkhiṇa muccatu,
rucinandā ṭhitā vākyaṃ vuccamānā katañjalī.

Vị ni Rucinandā đã đứng yên chắp tay nói lên lời khấn nguyện rằng: “Do nhờ oai lực thần thông của tôi, xin cho nhánh cây ở phía nam hãy tách ra.”

57/-
Muñcitvā dakkhiṇā sākhā patiṭṭhāsi kaṭāhake,
gahetvāna rucinandā bodhiṃ hemakaṭāhake.

Nhánh cây ở phía nam đã tách ra và ngự xuống ở trong cái chậu. Rucinandā đã nhận lấy cội cây Bồ Đề ở trong cái chậu bằng vàng.

58/-
Pañcasatabhikkhunīhi āgatā parivāritā,
tadāpi paṭhavī kampi sasamuddaṃ sapabbataṃ.

Được tùy tùng bởi năm trăm vị tỳ khưu ni, Rucinandā đã đi đến. Khi ấy, thậm chí trái đất, cùng với biển cả, và núi non đã rúng động.

59/-
Āloko ca mahā āsi abbhuto lomahaṃsano,
disvā attamanā sabbe rājasenā saraṭṭhakā,
añjaliṃ paggahetvāna namiṃsu bodhimuttamaṃ.

Và đã xảy ra một quanh cảnh vĩ đại phi thường khiến lông tóc dựng đứng. Sau khi chứng kiến, toàn thể đoàn quân của đức vua và dân cư trong xứ sở đã khởi tâm hoan hỷ chắp tay lên đảnh lễ cội Bồ Đề tối thượng.

60/-
Āmoditā tadā sabbe devatā haṭṭhamānasā,
ukkuṭṭhikaṃ pavattesuṃ disvā bodhitaruttamaṃ.

Khi ấy, tất cả chư thiên trở nên mừng rỡ, có tâm tư hoan hỷ, và đã khởi sự reo hò khi được nhìn thấy cội Bồ Đề tối thượng.

61/-
Cattāro ca mahārājā lokapālā yasassino,
rakkhaṃ sirīsabodhissa akaṃsu devatā tadā.

Và bốn vị đại (thiên) vương là những người hộ trì thế gian có danh tiếng. Khi ấy, chư thiên đã thực hiện việc canh giữ cội Bồ Đề Sirīsa.

62/-
Tāvatiṃsā ca ye devā ye devā vasavattino,
yamo sakko suyāmo ca santusito sunimmito,
sabbe te parivāresuṃ sirīsabodhimuttamaṃ.

Chư thiên ở cõi Tāvatiṃsa và chư thiên ở cõi Vasavatti như là vị Yama, Sakka, Suyāma, Santusita, Sunimmita, tất cả các vị ấy đã vây quanh cội Bồ Đề Sirīsa tối thượng.

63/-
Añjaliṃ paggahetvāna devasaṅghā pamoditā,
sah’eva rucinandāya pūjenti bodhimuttamaṃ.

Được hoan hỷ, hội chúng chư thiên luôn cả Rucinandā đã chắp tay lên và tôn vinh cội Bồ Đề tối thượng.

64/-
Sirīsabodhimādāya rucinandā mahiddhikā,
bhikkhunīhi paribbūḷhā ojadīpavaraṃ gami.

Vị ni Rucinandā có đại thần lực đã nhận lấy cội Bồ Đề Sirīsa rồi đã được các tỳ khưu ni tháp tùng đi đến hòn đảo Ojadīpa cao quý.

65/-
Devā naccanti gāyanti poṭhenti diguṇaṃ bhujaṃ,
ojadīpavaraṃ yantaṃ sirīsabodhimuttamaṃ.

Chư thiên nhảy múa, ca hát, vỗ cả hai tay khi cội Bồ Đề Sirīsa tối thượng đang di chuyển đến hòn đảo Ojadīpa cao quý.

66/-
Devasaṅghaparibbūḷhā rucinandā mahiddhikā,
sirīsabodhimādāya kakusandhamupāgami.

Vị ni Rucinandā có đại thần lực được hội chúng chư thiên tháp tùng đã mang cội Bồ Đề Sirīsa đi đến gặp đức Phật Kakusandha.

67/-
Tamhi kāle mahāvīro kakusandho vināyako,
mahātitthavanuyyāne bodhiṭṭhāne patiṭṭhito.

Vào lúc ấy, đấng Đại Hùng tức là vị lãnh đạo Kakusandha đã đứng tại vị trí (sẽ trồng) cội Bồ Đề ở trong khu lâm viên Mahātittha.

68/-
Rucinandā sayaṃ bodhiṃ obhāsentaṃ na ropayi,
disvā munī kakusandho pattharī dakkhiṇaṃ bhujaṃ.

Rucinandā đã không tự mình trồng xuống cội Bồ Đề rực rỡ. Thấy thế, đấng Hiền Triết Kakusandha đã duỗi cánh tay phải ra.

69/-
Bodhiyā dakkhiṇaṃ sākhaṃ rucinandā mahiddhikā,
buddhassa dakkhiṇe hatthe ṭhapayitvābhivādayi.

Vị ni Rucinandā có đại thần lực đã đặt nhánh cây phía nam của cội Bồ Đề vào tay phải của đức Phật rồi đã đảnh lễ.

70/-
Parāmasitvā lokaggo kakusandho narāsabho,
raññobhayassa padāsi idha ṭhānamhi ropaya.

Bậc Tối Thắng của thế gian Kakusandha, vị chúa tể của loài người, đã nắm lấy rồi trao cho đức vua Abhaya (nói rằng): Hãy trồng xuống ở nơi đây, tại vị trí này.”

71/-
Yamhi ṭhānamhi ācikkhi kakusandho narāsabho,
tamhi ṭhānamhi ropesi abhayo raṭṭhavaḍḍhano.

Đấng chúa tể của loài người Kakusandha đã chỉ định vị trí nào thì vị có công khuếch trương quốc độ Abhaya đã trồng xuống tại vị trí ấy.

72/-
Ṭhite sirīsabodhimhi bhūmibhāge manorame,
buddho dhammamadesayi catusaccappakāsato.

Khi cội Bồ Đề Sirīsa đã được an vị ở trong khuôn viên khu đất xinh đẹp, đức Phật đã thuyết giảng Giáo Pháp giảng giải về bốn Chân Lý (Khổ Tập Diệt Đạo).

73/-
Satasahassañcosāne cattāḷīsasahassakaṃ,
manussānamabhisamayo devānaṃ tiṃsakoṭiyo.

Và khi kết thúc là thời điểm chứng ngộ của một trăm bốn mươi ngàn người và ba mươi koṭi chư thiên.

74/-
Sirīso kakusandhassa konāgamanass’udumbaro,
kassapassāpi nigrodho tayo bodhi idhāharuṃ.

(Cội Bồ Đề) Sirīsa là của đức Phật Kakusandha, Udumbara là của đức Phật Konāgamana, Nigrodha là của đức Phật Kassapa. Các vị đã mang ba cội Bồ Đề đến nơi đây.

75/-
Sakyaputtassāsamassa bodhi assatthamuttamaṃ,
āharitvāna ropiṃsu mahāmeghavane tadā.

Cội Bồ Đề là của người con tối thắng dòng Sākya là cội cây Assattha tối thượng. Khi ấy, họ đã mang lại và trồng xuống ở trong khu vườn Mahāmeghavana.

76/-
Muṭasīvassa atrajā ath’aññe dasa bhātaro,
abhayo tisso nāgo ca utti mattābhayopi ca.

77/-
Mitto sīvo aselo ca tisso khīro ca honti’me,
sīvalī anulā ceti muṭasīvassa dhītaro.

Khi ấy, những người con trai của đức vua Muṭasīva là mười anh em khác nhau. Những người này là Abhaya, Tissa, Nāga, Utti, Mattābhaya, Mitta, Sīva, Asela, Tissa, và Khīra. Sīvalī và Anulā là (hai) người con gái của đức vua Muṭasīva.

78/-
Tadā ca vijayo agā laṅkādīpavaruttamaṃ,
yadā abhisitto rājā muṭasīvassa atrajo,
etthantare yaṃ gaṇitaṃ vassaṃ bhavati kittakaṃ.

Và kể từ khi Vijaya đi đến hòn đảo Laṅkā tối thượng cho đến khi vị vua là người con trai của Muṭasīva được đăng quang, khoảng giữa hai thời điểm ấy được tính là bao nhiêu năm?

79/-
Dve satāni ca vassāni chattiṃsā ca punāparā,
devānampiyatisso ca’bhisitto nibbute jine.

Đức vua Devānampiyatissa đã được đăng quang sau hơn hai trăm ba mươi sáu năm kể từ khi đấng Chiến Thắng Niết Bàn.

80/-
Tassābhisekena samaṃ āgatā rāja iddhiyo,
phariṃsu puññatejāni tambapaṇṇimhi nekadhā.

Nhờ vào lễ đăng quang, các quyền hành của đức vua đã thành tựu cho vị ấy. Các oai lực phước báu đã tỏa rạng ở tại Tambapaṇṇi theo nhiều cách thức.

81/-
Ratanākaraṃ tadā āsi laṅkādīpamathuttamaṃ,
tissassa puññatejena uggatā ratanā bahū.

Khi ấy, hòn đảo Laṅkā đứng hàng đầu về hầm mỏ châu ngọc. Do nhờ oai lực phước báu của Tissa, nhiều loại châu ngọc đã nổi lên.

82/-
Disvāna ratanaṃ rājā haṭṭho’daggamānaso,
paṇṇākāraṃ karitvāna dhammāsokassa pāhiṇi.

Nhìn thấy châu ngọc, đức vua đã khởi tâm tư hớn hở vui mừng rồi đã thực hiện phần quà biếu gởi đến đức vua Asoka công chính.

83/-
Disvāna taṃ paṇṇākāraṃ asokottamano ahū,
abhisekāya pāhesi anekaṃ ratanaṃ puna,
devānampiyatissa tambapaṇṇamhi uttame.

Sau khi nhìn thấy phần quà biếu ấy, đức vua Asoka đã trở nên hoan hỷ và đã gởi biếu lại rất nhiều châu báu cho lễ đăng quang của đức vua Devānampiyatissa ở tại xứ Tambapaṇṇi tối thắng.

84/-
Vālavījanimuṇhīsaṃ chattaṃ khaggaṃ ca pādukaṃ,
veṭhanaṃ sārapāmaṅgaṃ bhiṅkāraṃ nandivaṭṭakaṃ.

(Gồm có): Cây quạt lông thú, vương miện, lọng che, thanh gươm và giày dép, khăn đội đầu, dây thắt lưng loại mịn, bình rưới nước, vòng hoa khánh hỷ.

85/-
Sivikaṃ saṅkhavataṃsaṃ dhovimaṃ vatthakoṭikaṃ,
sovaṇṇapāti kaṭacchuṃ mahagghaṃ handupuñchanaṃ.

Kiệu khiêng, tù và vỏ ốc, vải hạng nhất không cần phải giặt, khay vàng, muỗng, khăn tay đắt giá.

86/-
Anotattodakaṃ kājaṃ uttamaṃ haricandanaṃ,
mattikāruṇavaṇṇañca añjanaṃ pannagāhaṭaṃ.

Gùi nước từ hồ Anotatta, trầm hương vàng tuyệt hảo, đất sét (để tắm) màu ráng đỏ, thuốc bôi mắt do loài rồng mang lại.

87/-
Harītakaṃ āmalakaṃ mahagghaṃ amatosadhaṃ,
saṭṭhivāhasataṃ sāliṃ sugandhaṃ ca suvāhaṭaṃ.

Hai loại trái cây harītakaāmalaka, nước cam-lồ bất tử vô cùng quý giá, một trăm sáu mươi xe gạo thơm sāli đã được các con chim két mang lại.

88/-
Puññakammāhi nibbataṃ paṇṇākāraṃ manoramaṃ,
laṅkābhiseke tissassa dhammāsokena pesito,
punābhisitto so rājā tambapaṇṇimhi issaro.

Đức vua Asoka công chính đã gởi đi phần quà biếu thích ý được phát sanh lên do các nghiệp thiện đến đức vua Tissa trong lễ đăng quang ở Laṅkā. Vị vua ấy là chúa tể ở xứ Tambapaṇṇi đã được phong vương lần nữa.

89/-
Dutiyābhiseke tass’atikkantaṃ tiṃsarattiyo,
mahindo gaṇapāmokkho jambudīpā idhāgato.

Khi lễ đăng quang lần thứ nhì của đức vua đã trải qua được ba mươi đêm thì ngài trưởng nhóm Mahinda đã từ Jambudīpa đi đến nơi đây.

90/-
Kārāpesi vihāraṃ so tissārāmamanuttaraṃ,
patiṭṭhapesi mahābodhiṃ mahāmeghavane tadā.

Đức vua Devānampiyatissa đã cho xây dựng tu viện Tissārāma tuyệt vời và khi ấy đã cho thiết lập cội Đại Bồ Đề ở khu vườn Mahāmeghavana.

91/-
Patiṭṭhapesi so thūpaṃ mahantaṃ rāmaṇeyyakaṃ,
devānampiyatissako’rāmaṃ cetiyapabbate.

Đức vua Devānampiyatissa ấy đã cho thiết lập ngôi bảo tháp vĩ đại xinh đẹp và tu viện ở ngọn núi Cetiyapabbata.

92/-
Thūpārāmaṃ ca kāresi vihāraṃ missakavhayaṃ,
vessagiriṃ ca kāresi colakatissanāmakaṃ.

Đức vua đã cho xây dựng tu viện Bảo Tháp (Thūpārāma), chủng viện có tên là Missaka, và còn cho xây dựng tu viện Vessagiri và tu viện Colakatissa.

93/-
Yojane yojane ṭhāne ārāmo tena kārito,
patiṭṭhapesi so tattha dhātuyo ca yathārahaṃ,
cattārīsampi vassāni rajjaṃ kāresi khattiyo’ti.

Ở tại mỗi địa điểm khoảng cách một do-tuần, đức vua đã cho xây dựng một tu viện. Tại nơi ấy, đức vua đã cho an trí các xá-lợi một cách trọng thể tương xứng. Vị Sát-đế-lỵ đã trị vì vương quốc được bốn mươi năm.

94/-
Muṭasīvassa atrajā ath’aññe catubhātaro,
uttiyo dasavassāni rajjaṃ kāresi khattiyo.

Sau đó, bốn anh em trai khác là những người con trai của đức vua Muṭasīva. Vị Sát-đế-lỵ Uttiya đã trị vì vương quốc được mười năm.

95/-
Aṭṭhavassābhisittassa nibbuto dīpajotako,
akā sarīranikkhepaṃ tissārāme puratthime.

Tám năm sau lễ đăng quang, đấng quang đăng Mahinda đã Niết Bàn. Việc tống táng thi thể đã được thực hiện ở phía đông của tu viện Tissārāma.

96/-
Paripuṇṇadvādasavasso mahindo ca idhāgato,
saṭṭhivasse paripuṇṇe nibbuto cetiye nage.

Ngài Mahinda đã đi đến nơi đây khi tròn đủ mười hai năm (thâm niên) và đã Niết Bàn tại núi Cetiya khi tròn đủ sáu mươi năm (thâm niên).

97/-
Alaṅkaritvā maggaṃ mālagghitoraṇādīhi,
padīpe jālayitvāna nibbute dīpajotake.

98/-
Rājā kho uttiyo nāma kūṭāgāraṃ ca uttamaṃ,
dassaneyyaṃ akāresi pūjesi dīpajotakaṃ.

Khi đấng quang đăng Mahinda đã Niết Bàn, đức vua tên Uttiya đã trang hoàng đường xá, cổng chào, tràng hoa giá trị, v.v..., đã thắp sáng các ngọn đèn, đã thực hiện xe tang (dáng nhà mái nhọn) hạng nhất, rồi đã cúng dường đến đấng quang đăng đáng được chiêm ngưỡng.

99/-
Ubho devā manussā ca nāgā gandhabbadānavā,
sabbeva dukkhitā hutvā pūjesuṃ dīpajotakaṃ.

Cả hai hạng chư thiên và nhân loại, các loài rồng, càn-thát-bà, a-tu-la, tất cả đều trở nên sầu khổ và đã tôn vinh đấng quang đăng Mahinda.

100/-
Sattāhaṃ pūpaṃ katvāna cetiye pabbatuttame,
ekacce evamāhaṃsu gacchāma nagaraṃ varaṃ.

Sau khi đã thực hiện sự cúng dường bảy ngày ở tại ngọn núi Cetiya tối thắng, một số người đã nói như vầy: “Chúng ta hãy đi đến thành phố cao quý.”

101/-
Ath’ettha vattanī saddo puthulo bheravo tadā,
idh’eva jhāpayissāma laṅkādīpassa jotakaṃ.

Khi ấy, có tiếng nói giận dữ và vang rền đã phát lên ở tại nơi ấy rằng: “Chúng ta sẽ hỏa thiêu đấng quang minh của hòn đảo Laṅkā ở ngay tại chỗ này.”

102/-
Rājā sutvāna vacanaṃ janakāyassa bhāsato,
mahācitakaṃ kāretvā tissārāmapuratthime.

Nghe theo lời nói của đám đông người đang phát biểu, đức vua đã cho thực hiện giàn hỏa thiêu vĩ đại ở tại phía đông của tu viện Tissārāma.

103/-
Sakūṭāgāramādāya mahindaṃ dīpajotakaṃ,
puratthimena nagaraṃ pavisiṃsu sarājakā.

Họ cùng với đức vua đã rước đấng quang đăng Mahinda cùng với chiếc xe tang đi vào thành phố bằng (cổng thành) phía đông.

104/-
Majjhena nagaraṃ gantvā nikkhamitvāna dakkhiṇā,
mahāvihāre sattāhaṃ mahāpūjamakaṃsu te.

Sau khi đã đi vào trung tâm thành phố rồi đi ra bằng (cổng thành) phía nam, họ đã thực hiện đại lễ cúng dường bảy ngày ở tại Mahāvihāra (Đại Tự).

105/-
Patvāna gandhacitakaṃ ubho devā ca mānusā,
ṭhapayitvā rājuyyāne pūjanatthāya subbataṃ.

Sau khi đến nơi, cả hai hạng chư thiên và nhân loại đã thiết lập giàn hỏa thiêu bằng gỗ thơm ở tại vườn thượng uyển để cúng dường đến bậc đức hạnh.

106/-
Kūṭāgāraṃ gahetvāna mahindaṃ dīpajotakaṃ,
thūpaṃ padakkhiṇaṃ katvā vandāpesumuttamaṃ.

Họ đã nắm lấy chiếc xe tang có đấng quang đăng Mahinda rồi đã nhiễu quanh đảnh lễ ngôi bảo tháp tối thắng.

107/-
Tadā puratthimadvārā nikkhamitvā mahājanā,
akaṃsu dehanikkhepaṃ bhūmibhāge manorame.

Khi ấy, đám đông dân chúng đã đi ra bằng cổng phía đông rồi đã tiến hành việc tống táng thi thể ở khuôn viên khu đất xinh đẹp.

108/-
Ārūḷhā citakaṃ sabbe rodamānā katañjalī,
abhivādetvā sirasā citakaṃ jālayiṃsu te.

Tất cả đã leo lên giàn hỏa thiêu khóc lóc, chắp tay lên. Sau khi đê đầu đảnh lễ, họ đã châm lửa giàn hỏa.

109/-
Dhātusesaṃ gahetvāna mahindassa sudhīmato,
akā thūpavaraṃ sabbesvārāmesu ca khattiyo.

Sau khi nhặt lấy phần di thể xá-lợi của ngài Mahinda thông minh, vị Sát-đế-lỵ đã cho thực hiện ngôi bảo tháp cao quý ở tất cả các tu viện.

110/-
Kataṃ sarīranikkhepaṃ mahindassa tadā yahiṃ,
isibhūmī’ti tassāyaṃ samaññā paṭhamaṃ ahū.

Khi ấy, danh hiệu đầu tiên của khu đất đã thực hiện việc tống táng thi thể của ngài Mahinda được gọi là “Isibhūmi” (khu đất của vị ẩn sĩ).

Sattarasamo paricchedo.
Chương thứ mười bảy.

Bhāṇavāraṃ sattarasamaṃ.
Dứt tụng phẩm thứ mười bảy.

--ooOoo--


[1] Một danh hiệu của thần Indra.

[2] Dòng thứ hai của câu kệ 14 mô tả về bốn vị Đại Thiên Vương, có liên quan đến trống trận (paṭaha), ... Chẳng lẽ bốn vị đang đánh trống?

-ooOoo-

Ðầu trang | 01| 02 | 03 | 04 | 05 | 06 | Mục lục

 

Chân thành cám ơn Tỳ khưu Indachanda đã gửi tặng bản vi tính (Bình Anson, 08-2005)

[Trở về trang Thư Mục]
last updated: 22-08-2005

Dao Su
Trang gốc

Trang web BuddhaSasana

VU Times font

 

THERAVĀDA

SỬ LIỆU VỀ ĐẢO LAṄKĀ
(DĪPAVAṂSA)

Nguyên tác Pāli: Không rõ danh tánh
Lời tiếng Việt: Tỳ khưu Indacanda (Trương đình Dũng)

SRI JAYAWARDHANARAMAYA
COLOMBO – 2005

Lưu ý: Ðọc với phông chữ VU Times (Viet-Pali Unicode)


PAÑCADASAMO PARICCHEDO
CHƯƠNG THỨ MƯỜI LĂM

1/-
Gimhāne paṭhame māse puṇṇamāse uposathe,
āgatā jambudīpamhā vasimha pabbatuttame.

(Ngài Mahinda nói với đức vua rằng): “Vào ngày trăng tròn Uposatha của tháng thứ nhất thuộc mùa nóng, chúng tôi đã từ Jambudīpa đi đến cư ngụ ở ngọn núi tuyệt vời.

2/-
Pañcamāse na vuṭṭhamhā tissārāme ca pabbate,
gacchāma jambudīpānaṃ anujāna rathesabha.

Trong năm tháng, chúng tôi đã không lìa xa tu viện Tissārāma và ngọn núi, giờ chúng tôi sẽ đi Jambudīpa. Tâu bệ hạ, xin ngài hãy chấp thuận.”

3/-
Tappema annapānehi vatthasenāsanehi ca,
saraṇaṃ gato jano sabbo kuto vo anabhirati.

4/-
Abhivādanapaccuṭṭhānamañjaliṅgarudassanaṃ,
ciraṃ diṭṭho mahārāja sambuddhaṃ dipaduttamaṃ.

(Đức vua): “Chúng tôi đã nỗ lực về cơm nước, y phục, và chỗ ngụ. Tất cả mọi người đều đã quy y. Vì sao các ngài lại không hoan hỷ việc đảnh lễ, đứng dậy, chắp tay, thành kính, và chiêm ngưỡng?” (Ngài Mahinda): “Tâu đại vương, đã lâu nay tôi không được nhìn thấy đấng Chánh Đẳng Giác, bậc tối thượng của loài người.”

5/-
Aññātaṃ vatāhaṃ bhante karomi thūpam uttamaṃ,
vijānātha bhūmikammaṃ thūpaṃ kāhāmi satthuno.

(Đức vua): “Thưa ngài, đương nhiên trẫm hiểu được. Trẫm sẽ xây dựng ngôi bảo tháp hạng nhất. Xin các ngài quan tâm đến việc lựa chọn khu đất, trẫm sẽ xây dựng ngôi bảo tháp cho bậc Đạo Sư.”

6/-
Ehi tvaṃ sumana gantvā pāṭaliputtapuruttamaṃ ,
asokaṃ dhammarājānaṃ evaṃ c’ārocayāhi tvaṃ.

(Ngài Mahinda nói với sa-di Sumana): “Này Sumana, con hãy đi đến kinh đô Pāṭaliputta và con hãy thưa với đức vua công chính Asoka như vầy:

7/-
Sāhāyo te mahārāja pasanno buddhasāsane,
dehi dhātuvaraṃ tassa thūpaṃ kāhāti satthuno.

Tâu đại vương, người bạn của ngài đã có niềm tin vào Phật Pháp. Xin ngài hãy bố thí xá-lợi cao quý đến ông ấy, ông ấy sẽ xây dựng ngôi bảo tháp cho bậc Đạo Sư.’”

8/-
Bahussuto sutadharo subbaco vacanakkhamo,
iddhiyā pāramippatto acalo suppatiṭṭhito.

Sumana là vị đa văn, ghi nhớ điều đã học, dễ dạy, nhẫn nhịn, thành tựu ba-la-mật và thần thông, không dao động, và khéo an trú.

9/-
Pattacīvaramādāya khaṇe pakkami pabbatā,
asokaṃ dhammarājānaṃ ārocesi yathākathaṃ.

Sau khi cầm lấy y và bình bát, trong phút chốc vị ấy đã rời khỏi ngọn núi và đã trình bày với đức vua công chính Asoka đúng như lời dặn dò:

10/-
Upajjhāyassa me rāja suṇohi vacanaṃ tuvaṃ,
sahāyo te mahārāja pasanno buddhasāsane,
dehi dhātuvaraṃ tassa thūpaṃ kāhati satthuno.

Tâu bệ hạ, xin ngài hãy lắng nghe lời nói của thầy tế độ tôi rằng: ‘Tâu đại vương, người bạn của ngài đã có niềm tin vào Phật Pháp. Xin ngài hãy bố thí xá-lợi cao quý đến ông ấy, ông ấy sẽ xây dựng ngôi bảo tháp cho bậc Đạo Sư.’”

11/-
Sutvāna vacanaṃ rājā tuṭṭho saṃviggamānaso,
dhātupattam apūresi khippaṃ gacchāhi subbata.

Lắng nghe lời nói, đức vua trở nên hoan hỷ và có tâm tư phấn chấn đã chứa xá-lợi đầy bình bát (nói rằng): “Thưa bậc đạo đức, xin ngài hãy mau chóng khởi hành.”

12/-
Tato dhātuṃ gahetvāna subbaco vacanakkhamo,
vehāsaṃ abbhuggantvā’gamā kosiyasantike.

Sau khi nhận lấy xá-lợi từ nơi ấy, vị dễ dạy, nhẫn nhịn đã bay lên không trung rồi đi đến gặp vị thần Kosiya.[1]

13/-
Subbaco anupasaṅkamma kosiyaṃ etadabravī,
upajjhāyassa me rāja suṇohi vacanaṃ tuvaṃ.

Vị dễ dạy đã đi đến gần rồi đã nói với vị thần Kosiya điều này: “Tâu bệ hạ, xin ngài hãy lắng nghe lời nói của thầy tế độ tôi rằng:

14/-
Devānaṃpiyo rājā so pasanno buddhasāsane,
dehi dhātuvaraṃ tassa kāhati thūpamuttamaṃ.

Đức vua Devānampiya ấy đã có niềm tin vào Phật Pháp. Xin ngài hãy bố thí xá-lợi cao quý đến ông ấy, ông ấy sẽ xây dựng ngôi bảo tháp tuyệt vời.’”

15/-
Sutvāna vacanaṃ tassa kosiyo tuṭṭhamānaso,
dakkhiṇakkhakaṃ pādāsi khippaṃ gacchāhi subbata.

Lắng nghe lời nói của vị ấy, với tâm hoan hỷ vị thần Kosiya đã trao (xá-lợi) xương đòn phía bên phải (nói rằng): “Thưa bậc đạo đức, xin ngài hãy mau chóng khởi hành.”

16/-
Sāmaṇero ca sumano gantvā kosiyasantike,
dakkhiṇakkhakaṃ gahetvāna’patiṭṭhito pabbatuttame.

Và sau khi đi đến gặp vị thần Kosiya và nhận lấy (xá-lợi) xương đòn phía bên phải, vị sa-di Sumana đã về lại ngọn núi tuyệt vời.

17/-
Sampannahirottappako garubhāvo ca paṇḍito,
pesito therarājena patiṭṭhito pabbatuttame.

Bậc trí tuệ có đầy đủ tàm quý và có bản chất đáng kính được vị đứng đầu các trưởng lão phái đi, giờ đã hiện diện tại ngọn núi tuyệt vời.

18/-
Sabhātuko mahāseno bhikkhusaṅghe varuttame,
paccuggami tadā rājā buddhaseṭṭhassa dhātuyo.

Khi ấy, đức vua cùng với các người em trai và đoàn quân đông đảo đã đi ra đón rước các viên xá-lợi của đức Phật tối cao ở nơi hội chúng tỳ khưu cao quý tối thượng

19/-
Cātumāsaṃ komudiyaṃ divasaṃ puṇṇarattiyā,
āgato ca mahāvīro gajakumbhe patiṭṭhito.

Vào dịp lễ hội Cātumāsa nhằm đêm trăng tròn của ngày rằm tháng Kattika, (xá-lợi của) đấng Đại Hùng đã đến, ngự ở trên đầu của con voi.

20/-
Akāsi so kuñcanādaṃ kaṃsathālaggiyāhataṃ,
akampi tattha paṭhavī paccantamāgate muni.

Con voi đã rống lên tiếng rống của loài voi như tiếng cồng gõ. Tại nơi ấy, trái đất đã rúng động khi (xá-lợi) của đấng Mâu Ni đang tiến vào khu vực lân cận.

21/-
Saṅkhapanavaninnādo bherisaddo samāhato,
khattiyo parivāretvā pūjesi purisuttamaṃ.

Âm thanh của tiếng tù và cùng với tiếng trống con đã hòa âm điệu.Vị Sát-đế-lỵ đã tháp tùng tôn vinh bậc vĩ nhân.

22/-
Pacchāmukho hatthināgo pakkami pattisammukhā,
puratthimena dvārena nagaraṃ pāvisi tadā.

Khi ấy, con long tượng đầu quay về hướng tây đã bước ra dẫn đầu đoàn bộ binh và đã đi vào thành phố bằng cổng thành ở hướng đông.

23/-
Sabbagandhaṃ ca mālaṃ ca pūjenti naranāriyo,
dakkhiṇena ca dvārena nikkhamitvā gajuttamo.

Đoàn người nam nữ cúng dường mọi thứ hương thơm và vòng hoa. Và con voi chúa đã đi ra (khỏi thành phố) bằng cổng thành phía nam.

24/-
Kakusandhe ca satthari konāgamane ca kassape,
patiṭṭhite bhūmibhāge porāṇa isinaṃ pure.

Và ở tại khuôn viên khu đất ở trong thành phố của các vị ẩn sĩ thời xưa đã được các bậc Đạo Sư Kakusandha, Konāgamana, và Kassapa ngự đến.

25/-
Upāgato hatthirājā bhūmisīsaṃ gajuttamo,
dhātuyo sakyaputtassa patiṭṭhesi narāsabho.

Con voi chúa, đứng đầu loài voi, đã đi lên phía trên đỉnh đồi. Đức vua đã an vị các xá-lợi của đức Thích Ca.

26/-
Saha patiṭṭhite dhātu devā tattha pamoditā,
akampi tattha paṭhavī abbhūtaṃ lomahaṃsanaṃ.

Chư thiên ở nơi ấy đã hoan hỷ với việc xá-lợi được an vị. Tại nơi ấy, trái đất đã rúng động. Thật là trạng thái kỳ diệu khiến lông tóc dựng đứng.

27/-
Sabhātuko pasādetvā mahāmacce saraṭṭhake,
thūpiṭṭhikaṃ ca kāresi sāmaṇero mahiddhiko.

(Đức vua) cùng với các người em trai đã tạo niềm tin cho các quan đại thần và dân cư trong xứ sở. Và vị sa-di có đại thần lực đã cho thực hiện gạch để xây dựng ngôi bảo tháp.

28/-
Paccekapūjañcākaṃsu khattiyā thūpam uttamaṃ,
vararatanasaṃchannaṃ dhātudīpaṃ varuttamaṃ.

Các vị Sát-đế-lỵ đã thực hiện sự cúng dường của cá nhân đến ngôi bảo tháp tối thượng có xá-lợi vô cùng cao quý rực sáng như ngọn đèn và được che phủ châu ngọc quý giá.

29/-
Setacchattaṃ ca paccekachattañcānekakaṃ yathā,
tathārūpaṃ alaṃkāraṃ vālavījani dassati.

Và có lọng che màu trắng, lọng đơn hoặc kép đều giống nhau. Tương tợ như thế, cây quạt lông thú được xem là vật trang sức.

30/-
Thūpaṭṭhāne catuddisā padīpehi vibhātakā,
sataraṃsi udente va upasobhanti samantato.

Ở tại vị trí của ngôi bảo tháp, có những tia sáng từ những ngọn đèn tỏa sáng ở bốn phía xung quanh giống như mặt trời đang mọc.

31/-
Pattharitehi dussehi nānāraṅgehi cittiyo,
ākāso vigatabbho ca uparūpari sobhati.

Có những bức tranh vẽ với những tấm vải nhiều màu được căng lên và không gian là bầu trời quang đãng chiếu sáng ở phía bên trên.

32/-
Ratanamayaparikkhittaṃ aggiyaphalikāni ca,
kañcanavitānaṃ chattaṃ sovaṇṇamāli vicittakaṃ.

Có mái che bằng vàng được viền quanh bằng châu ngọc và những viên ngọc pha-lê quý giá, và có chiếc lọng che với vòng hoa bằng vàng đa dạng.

33/-
Imaṃ passati sambuddho kakusandho vināyako,
cattālīsasahassehi tādīhi parivārito.

Là vị lãnh đạo được tháp tùng bởi bốn mươi ngàn vị tương tợ như Ngài, đấng Chánh Đẳng Giác Kakusandha đã quan sát nơi này.

34/-
Karuṇā codito buddho satte passati cakkhumā,
ojadīpe’bhayapure dukkhappatte ca mānuse.

Thúc giục bởi lòng bi mẫn, đức Phật bậc Hữu Nhãn đã nhìn thấy chúng sanh và nhân loại đang chịu khổ hình trong thành Abhaya ở trên hòn đảo Ojadīpa.

35/-
Bodhesi te bahū satte bodhaneyye mahājane,
buddharaṃsānubhāvena ādicco padumaṃ yathā.

Với năng lực hào quang của vị Phật, Ngài đã thức tỉnh số đông chúng sanh ấy là những người có khả năng giác ngộ, tương tợ như mặt trời đánh thức đóa hoa sen.

36/-
Cattālīsasahassehi bhikkhūhi parivārito,
abbhuṭṭhitova suriyo ojadīpe patiṭṭhito.

Được tháp tùng bởi bốn mươi ngàn vị tỳ khưu, Ngài đã ngự trên hòn đảo Ojadīpa giống như ánh mặt trời mọc.

37/-
Kakusandho mahādevo devakūṭo ca pabbato,
ojadīpe’bhayapure abhayo nāma khattiyo.

Ngài Kakusandha có tên là Mahādeva, ngọn núi là Devakūṭa, và vị Sát-đế-lỵ là Abhaya ở trong thành Abhaya trên hòn đảo Ojadīpa.

38/-
Nagaraṃ kadambakokāse nadīto āsi māpitaṃ,
suvibhattaṃ dassaneyyaṃ ramaṇīyaṃ manoramaṃ.

Thành phố đã được kiến tạo cạnh bờ sông trong khu vực Kadambaka, và khéo được phân bố, đáng nhìn, xinh đẹp, lộng lẫy.

39/-
Puṇṇakanarako nāma pajjaro āsi kakkhalo,
jano saṃsayamāpanno macchāva kumināmukhe.

Có cơn sốt khủng khiếp tên là Puṇṇakanaraka đã xảy ra và dân chúng đã bị hoang mang giống như những con cá ở nơi miệng lưới.

40/-
Buddhassa ānubhāvena pakkanto pajjaro tadā,
desite amate dhamme sāsane ca patiṭṭhite.

41/-
Caturāsītisahassānaṃ dhammābhisamayo ahu,
paṭiyārāmo tadā āsi dhammakarakacetiyaṃ.

Khi ấy, do nhờ năng lực của đức Phật cơn sốt đã biến mất. Khi Pháp Bất Tử được thuyết giảng và Giáo Hội được thiết lập là thời điểm chứng ngộ Giáo Pháp của tám mươi bốn ngàn người. Khi ấy đã có tu viện Paṭiyārāma và bảo tháp Dhammakaraka (thờ vật dụng lọc nước).

42/-
Bhikkhusahassaparivuto mahādevo mahiddhiko,
pakkanto ca jino tamhā sayamev’aggapuggalo’ti.

Vị Mahādeva có đại thần lực được tháp tùng bởi một ngàn vị tỳ khưu. Và đấng Chiến Thắng đã rời khỏi nơi ấy, chính vị ấy là bậc “Tối Thượng Nhân.”

43/-
Imaṃ passati sambuddho konāgamano mahāmuni,
tiṃsabhikkhusahassehi samantā parivārito.

Là vị đại hiền triết được tháp tùng xung quanh bởi ba mươi ngàn vị tỳ khưu, đấng Chánh Đẳng Giác Konāgamana đã quan sát nơi này.

44/-
Dasasahasse sambuddho karuṇaṃ pharati cakkhumā.
varadīpe mahāvīro dukkhite passati nare.

Bậc Chánh Đẳng Giác, đấng Hữu Nhãn, đã phát tâm bi mẫn trong mười ngàn (thế giới). Đấng Đại Hùng đã nhìn thấy chúng sanh ở hòn đảo Varadīpa đang chịu khổ đau.

45/-
Tamhi dīpe pabodhetuṃ bodhaneyye mahājane,
buddharaṃsānubhāvena ādicco padumaṃ yathā.

Nhờ vào năng lực hào quang của vị Phật, Ngài đã thức tỉnh đám đông người có khả năng giác ngộ ở trên hòn đảo ấy, tương tợ như mặt trời đánh thức đóa hoa sen.

46/-
Tiṃsabhikkhusahassehi sambuddho parivārito,
abbhuṭṭhito va suriyo varadīpe patiṭṭhito.

Được tháp tùng bởi ba mươi ngàn vị tỳ khưu, đấng Chánh Đẳng Giác đã ngự ở hòn đảo Varadīpa, giống như mặt trời mọc.

47/-
Konāgamano nāma jino samantakūṭapabbato,
dīpe vāsi vaḍḍhamāne samiddho nāma khattiyo.

Đấng Chiến Thắng có tên là Konāgamana, ngọn núi là Samantakūṭa, vị Sát-đế-lỵ là Samiddha cư ngụ tại Vaḍḍhamāna ở trên hòn đảo.

48/-
Dubbuṭṭhiyo tadā cāsuṃ dubbhikkhe bhayapīḷite,
dubbhikkhadukkhite satte macchā vappodake yathā.

Và khi ấy, có những cơn hạn hán. Trong lúc bị đọa đày vì nỗi hoảng sợ trong cảnh đói kém, chúng sanh bị khốn khổ vì thiếu thức ăn giống như những con cá ở nguồn nước cạn.

49/-
Āgate lokanāthe ca devo sammābhivassati,
khemo cāsi janapado assāsesi bahujjane.

Khi vị Lãnh Đạo của thế gian đi đến, vị trời đã làm mưa đúng thời, dân cư trở nên an ổn, và Ngài đã an ủi nhiều người.

50/-
Tissatalākasāmante nagare dakkhiṇāmukhe,
vihāro uttarārāmo kāyabandhanacetiyaṃ.

Ở lối vào phía nam trong thành phố kề cận hồ Tissa, có tu viện Uttarārāmo là điện thờ Kāyabandhanacetiya (nơi thờ sợi dây thắt lưng của đức Phật).

51/-
Caturāsītisahassānaṃ dhammābhisamayo ahū,
desite amate dhamme suriyo udito yathā.

Khi Pháp Bất Tử được thuyết giảng, ví như mặt trời đã mọc lên, là thời điểm chứng ngộ Giáo Pháp của tám mươi bốn ngàn người.

52/-
Bhikkhusahassa parivutto mahāsumano patiṭṭhito,
pakkanto cāsi mahāvīro sayamev’aggapuggalo’ti.

Được tháp tùng bởi một ngàn vị tỳ khưu, đấng Đại Hùng Mahāsumana đã trụ lại rồ đã ra đi, chính vị ấy là bậc “Tối Thượng Nhân.”

53/-
Imaṃ passati sambuddho kassapo lokanāyako,
vīsatibhikkhusahassehi samantā parivārito.

Là vị lãnh đạo thế gian được tháp tùng bởi hai mươi ngàn vị tỳ khưu ở xung quanh, đấng Chánh Đẳng Giác Kassapa (đã) quan sát nơi này.

54/-
Kassapo ca lokavidū voloketi sadevakaṃ,
buddhacakkhuvisuddhena bodhaneyye ca passati.

Và đấng Thông Suốt Thế Gian Kassapa bằng Phật Nhãn thanh tịnh (đã) xem xét luôn cả thế giới chư thiên và nhận ra những ai có khả năng giác ngộ.

55/-
Kassapo ca lokavidū āhutīnaṃ paṭiggaho,
pharaṃ mahākaruṇāya vivādena passati pakuppite.

Và đấng Thông Suốt Thế Gian Kassapa, người thọ nhận những vật cúng dường, (đã) phát khởi lòng bi mẫn quảng đại và nhìn thấy những kẻ bị sân hận vì tranh cãi.

56/-
Maṇḍadīpe bahū satte bodhaneyye ca passati,
buddharaṃsānubhāvena ādicco padumaṃ yathā.

Nhờ vào năng lực hào quang của vị Phật, Ngài nhìn thấy được vô số chúng sanh có khả năng giác ngộ ở trên hòn đảo Maṇḍadīpa, tương tợ như mặt trời chiếu rọi đóa hoa sen,

57/-
Gacchissāmi maṇḍadīpaṃ jotayissāmi sāsanaṃ,
patiṭṭhapemi sammābhaṃ andhakāraṃva candimā.

(Ngài Kassapa đã nghĩ rằng): “Ta sẽ đi đến Maṇḍadīpa. Ta sẽ làm rạng rỡ Giáo Pháp. Ta sẽ tạo ra vầng hào quang hoàn hảo giống như mặt trăng trong đêm tối.”

58/-
Bhikkhugaṇaparivuto ākāse pakkamī jino,
patiṭṭhito maṇḍadīpe suriyo abbhuṭṭhito yathā.

Được tháp tùng bởi hội chúng tỳ khưu, đấng Chiến Thắng đã ra đi trong không trung rồi đã ngự đến hòn đảo Maṇḍadīpa, tương tợ như mặt trời mọc lên.

59/-
Kassapo sabbanando ca subhakūṭo ca pabbato,
visālaṃ nāma nagaraṃ jayanto nāma khattiyo.

Ngài Kassapa có tên là Sabbananda, ngọn núi là Subhakūṭa, thành phố là Visāla, và vị Sát-đế-lỵ tên là Jayanta.

60/-
Khematalākasāmante nagare pacchime mukhe,
vihāro pācīnārāmo cetiyaṃ dakasāṭakaṃ.

Ở lối vào phía tây trong thành phố lân lận với hồ Khema, có tu viện Pācīnārāma là điện thờ Dakasāṭaka (nơi thờ vải choàng tắm).

61/-
Assāsetvāna sambuddho katvā samaggabhātuke,
desesi amataṃ dhammaṃ patiṭṭhapesi sāsanaṃ.

Sau khi đã an ủi và khiến cho các anh em đoàn kết lại, đấng Chánh Đẳng Giác đã giảng giải Pháp Bất Tử và đã thiết lập Giáo Hội.

62/-
Desite amate dhamme patiṭṭhite ca sāsane,
caturāsītisahassānaṃ dhammābhisamayo ahū.

Khi Pháp Bất Tử được giảng giải và Giáo Hội được thiết lập là thời điểm chứng ngộ Giáo Pháp của tám mươi bốn ngàn người.

63/-
Bhikkhugaṇaparivuto sabbanando mahāyaso,
patiṭṭhito maṇḍadīpe pakkanto lokanāyako’ti.

Được tháp tùng bởi hội chúng tỳ khưu, đấng “Lãnh Đạo Thế Gian Sabbananda là vị có danh tiếng lẫy lừng đã an trú ở tại hòn đảo Maṇḍadīpa và đã ra đi”

64/-
Ayaṃ hi loke buddho uppanno lokanāyako,
sattānaṃ anukampāya desesi dhammamuttaṃ.

Chính đức Phật này là đấng Lãnh Đạo Thế Gian xuất hiện ở thế gian. Vì lòng thương tưởng chúng sanh Ngài đã thuyết giảng Giáo Pháp cao thượng.

65/-
S’etaṃ passati sambuddho lokajeṭṭho narāsabho,
nāgānamāsi sagghāmo mahāsenā samāgatā.

Ngài là đấng Chánh Đẳng Giác, bậc Tối Thượng ở đời, chúa tể của nhân loại, là vị có uy tín đã nhìn thấy các loài rồng ấy với đoàn quân đông đảo đã tụ hội lại.

66/-
Dhūmāyanti pajjalanti verāyanti caranti te,
mahabbhayaṃ samuppattaṃ dīpaṃ nāsenti pannagā.

Lũ rồng ấy tỏa khói, phun lửa, thù hằn, tạo nên nỗi lo sợ khủng khiếp khiến làm cho hòn đảo đã được thành tựu bị hủy hoại.

67/-
Āgamā ekībhūto’va gacchāmi dīpam uttamaṃ,
mātulaṃ bhāgineyyaṃ ca nibbāpessāmi pannage.

Ngài đã đi đến chỉ có một mình (nghĩ rằng): “Ta sẽ đi đến hòn đảo tối thắng và sẽ hòa giải các con rồng cậu và cháu.

68/-
Ahaṃ gotamasambuddho pabbate cetināmake,
anurādhapure ramme tisso nāmāsi khattiyo.

Ta là đấng Chánh Đẳng Giác Gotama, ngọn núi có tên là Cetiya, ở trong thành Anurādhapura xinh đẹp có vị Sát-đế-lỵ tên là Tissa.”

69/-
Kusinārāyaṃ bhagavā mallānamupavattane,
anupādisesā buddho nibbuto upadhikkhaye.

Ở Kusinārā, tại (khu rừng) Upavattana của xứ Malla, đức Phật khi đã cạn kiệt mầm tái sanh đã Niết Bàn không còn dư sót.

70/-
Vasse dvisatā’tīte chattiṃsa ca vassake tathā,
mahindo nāma nāmena jotayissati sāsanaṃ.

(Đức Phật đã xác định rằng): “Như thế, khi đã trải qua hai trăm ba mươi sáu năm, vị có tên là Mahinda sẽ làm rạng rỡ Giáo Pháp.

71/-
Nagarassa dakkhiṇato bhūmibhāge manorame,
ārāmo ca ramaṇīyo thūpārāmo’ti suyyare.

Ở khuôn viên vùng đất hữu tình thuộc khu vực phía nam của thành phố sẽ có tu viện xinh xắn tên là ‘Thūpārāma.’

72/-
Tambapaṇṇīti nāmena dīpo cāyam bhavissati,
sārīrikā mama dhātuṃ patiṭṭhissaṃ sādhukaṃ.

Và hòn đảo này sẽ có tên là Tambapaṇṇi. Xá-lợi di thể của ta sẽ được an trí một cách tốt đẹp.”

73/-
Buddhe pasannā dhamme ca saṅghe ca ujudiṭṭhikā,
bhave cittaṃ virājeti anulā nāma khattiyā.

Nữ Sát-đế-lỵ tên Anulā là có niềm tin với đức Phật, đức Pháp, đức Tăng, có tri kiến đúng đắn, và đã đoạn trừ tâm (vướng mắc) trong hiện hữu.

74/-
Deviyā vacanaṃ sutvā rājā theraṃ id’abravī,
buddhe pasannā dhamme ca saṅghe ca ujudiṭṭhikā.

Nghe được lời nói của hoàng hậu, đức vua đã nói với vị trưởng lão điều này: “Hoàng hậu có niềm tin với đức Phật, đức Pháp, đức Tăng, và có tri kiến đúng đắn.

75/-
Bhave cittaṃ virājeti pabbājetha anūlakaṃ,
akappiyā mahārāja thita’pabbajā bhikkhuno.

Nàng đã đoạn trừ tâm (vướng mắc) trong hiện hữu. Xin ngài hãy xuất gia cho nàng Anulā.” (Ngài Mahinda): “Tâu đại vương, việc xuất gia (cho hoàng hậu) được thực hiện bởi các vị tỳ khưu là không đúng phép.

76/-
Āgamissati me rāja bhaginī saṅghamittakā,
pabbājetvāna mocetuṃ anulaṃ sabbabandhanā.

Tâu bệ hạ, em gái của tôi là Saṅghamittā sẽ đi đến để cho (hoàng hậu) Anulā xuất gia và để giải thoát (hoàng hậu) khỏi mọi sự trói buộc.

77/-
Saṅghamittā mahāpaññā uttarā ca vicakkhaṇā,
hemā ca māsagallā ca aggimittā mitāvadā.

Saṅghamittā có đại trí tuệ, Uttarā thông minh, Hemā, Māsagallā, và Aggimittā nói năng khiêm tốn.

78/-
Tappā pabbatachinnā ca mallā ca dhammadāsikā,
ettakā tā bhikkhuniyo dhutarāgā samāhitā.

Tappā, Pabbatachinnā, Mallā, Dhammadāsikā, các vị tỳ khưu ni ấy đều đoạn lìa ái dục, được định tĩnh.

79/-
Odātamanasaṅkappā saddhammavinaye ratā,
khīṇāsavā vasippattā tevijjā iddhikodidā.

(Các vị ni ấy có) tâm tư thanh tịnh, thỏa thích trong Chánh Pháp và Luật, các lậu hoặc đã cạn kiệt, thành tựu sự thu thúc, có tam minh, và thuần thục về thần thông.

80/-
Uttamante ṭhitā tattha āgamissanti tā idha,
mahāmaccaparivuto nisinno khattiyo tadā.

Các vị ni ấy đã an trú vào vị thế tối thượng ở tại nơi ấy và sẽ đi đến nơi đây.” Được tùy tùng bởi các quan đại thần, khi ấy vị Sát-đế-lỵ đã ngồi xuống.

81/-
Mantitukāmo nisīditvā maccānaṃ etadabravī,
ariṭṭho nāma khattiyo sutvā devassa bhāsitaṃ.

Với ý định thỉnh mời (các vị tỳ khưu ni), sau khi ngồi xuống đức vua đã nói với các vị quan đại thần điều ấy. Vị Sát-đế-lỵ tên là Ariṭṭha đã lắng nghe lời nói của đức vua.

82/-
Therassa vacanaṃ sutvā uggahetvāna sāsanaṃ,
dāyakaṃ anusāsetvā pakkami uttarāmukho.

Sau khi lắng nghe lời nói của vị trưởng lão, vị ấy đã ghi nhớ lời dặn dò, đã nhắn nhủ người cung cấp, rồi đã ra đi về hướng bắc.

83/-
Nagarass’ekadesamhi gharaṃ katvāna khattiyā,
dasasīlaṃ samādinnā anulā pamukhā ca tā.

Có hoàng hậu Anulā lãnh đạo, các nữ Sát-đế-lỵ ấy đã thiết lập nhà ở tại một khu vực của thành phố, đã thọ trì mười học giới.

84/-
Sabbā pañcasatā kaññā abhijātā jutindharā,
anulaṃ parivāretvā sāyaṃ pāto upaṭṭhisuṃ.

Toàn thể năm trăm công nương xuất thân cao quý, thông minh, đều quây quần hiện diện sáng tối bên Anulā.

85/-
Nāvatitthamupagantvā āropetvāna nāvakaṃ,
sāgaraṃ samatikkanto thale patvā patiṭṭhito.

Sau khi đi đến bến tàu, Ariṭṭha đã lên thuyền, vượt qua biển khơi, rồi đã cập bến, và đứng ở trên đất liền.

86/-
Viñjhāṭaviṃ atikkanto mahāmacco mahabbalo,
pāṭaliputtānuppatto gato devassa santikaṃ.

Sau khi vượt qua khu rừng ở rặng núi Viñjha, vị quan đại thần có nhiều quyền lực đã đến được thành Pāṭaliputta gặp được đức vua (xứ Jambudīpa).

87/-
Putto deva mahārāja ahū yo piyadassano,
mahindo nāma so thero pesito tava santikaṃ.

Tâu đại vương, phải chăng là ngài Piyadassana? Vị trưởng lão ấy tên là Mahinda, tức là người con trai của bệ hạ, đã phái thần đi đến gặp ngài.

88/-
Devānampiyo rājā sahāyo piyadassano,
buddhe abhippasanno so pesito tava santikaṃ.

Thưa ngài Piyadassana, đức vua Devānampiya là bạn của ngài đã vững tin vào đức Phật, vị ấy đã phái thần đi đến gặp ngài.”

89/-
Bhātuko saṅghamittāya avacīdaṃ mahā isi,
rājakaññā suppasannā anulā nāma khattiyā.

(Nói với tỳ khưu ni Saṅghamittā): “Vị đại ẩn sĩ là người anh trai của Saṅghamittā đã nói điều này: ‘Người con gái của đức vua tên là Anulā là nữ Sát-đế-lỵ đã tròn đủ niềm tin.

90/-
Sabbā taṃ apalokenti pabbajjāya purakkhakā,
bhātuno sāsanaṃ sutvā saṅghamittā vicakkhaṇā.

91/-
Turitā upasaṅkamma rājānaṃ idamabravī,
anujāna mahārāja gacchāmi dīpalaṅkataṃ.

Hết thảy những người nữ quý phái đều trông mong ni sư về việc xuất gia.’” Sau khi nghe được lời nhắn của người anh trai, Saṅghamittā khôn khéo đã nhanh chóng đi đến gặp đức vua và nói lời này: “Tâu đại vương, xin ngài hãy chấp thuận. Thần sẽ đi đến hòn đảo Laṅkā.

92/-
Bhātuno vacanaṃ mayhaṃ na sakkā deva vārituṃ,
bhāgineyyo ca sumano putto ca jeṭṭhabhātuko.

Tâu bệ hạ, lời nói của người anh trai của thần là không thể ngăn cản.” (Đức vua): “Người cháu trai Sumana và người con trai (của trẫm) tức là người anh trai lớn (của con).

93/-
Gatā tava piyodāni gamanaṃ vāremi dhītuyā,
bhāriyaṃ me mahārāja bhātuno vacanaṃ mama.

Các người yêu quý của con đã đi rồi. Giờ đây, trẫm ngăn cản việc ra đi của con gái trẫm.” (Saṅghamittā): “Tâu đại vương, lời nói của anh trai con đối với con là quan trọng.

94/-
Rājakaññā mahārāja anulā nāma khattiyā,
sabbā maṃ apalokenti pabbajjāya purakkhakā.

Tâu đại vương, người con gái của đức vua tên Anulā là nữ Sát-đế-lỵ. Hết thảy những người nữ quý phái đều trông mong con về việc xuất gia.”

Pañcadasamo paricchedo.
Chương thứ mười lăm.

Bhāṇavāraṃ paṇṇarasamaṃ.
Dứt tụng phẩm thứ mười lăm.

--ooOoo--

SOḶASAMO PARICCHEDO
CHƯƠNG THỨ MƯỜI SÁU

1/-
Caturaṅginiṃ mahāsenaṃ sannayhitvāna khattiyo,
tathāgatassa sambodhiṃ ādāya pakkami tadā.

Khi ấy, sau khi tập hợp đội binh hùng hậu gồm bốn loại binh chủng, vị Sát-đế-lỵ đã cầm lấy nhánh cây Bồ Đề của đức Như Lai rồi ra đi.

2/-
Tīsu rajjāni’tikkanto viñjhaṭaviṃ ca khattiyo,
atikkanto mahāraññaṃ anuppatto mahaṇṇavaṃ.

Vị Sát-đế-lỵ đã vượt qua ba vương quốc và khu rừng Viñjha, rồi đã băng qua khu rừng lớn và đến được đại dương.

3/-
Caturaṅginī mahāsenā bhikkhunīsaṅghasāvikā,
mahāsamuddaṃ pakkantā ādāya bodhimuttamaṃ.

Đội binh hùng hậu gồm bốn loại binh chủng và các Thinh Văn đệ tử thuộc hội chúng tỳ khưu ni đã mang theo cây Bồ Đề tối thượng và đang tiến về phía biển cả.

4/-
Upari dibbaṃ turiyaṃ heṭṭhato ca manussakaṃ,
cātuddisaṃ mānusikaṃ pakkantaṃ jalasāgare.

Ở bên trên có âm nhạc thiên đình, ở bên dưới là (âm nhạc) thuộc về nhân loại. Và trong khi khởi hành ở trên mặt biển, có âm nhạc của loài người ở khắp bốn phương.

5/-
Muddhani avaloketvā khattiyo piyadassano,
abhivādayitvā bodhiṃ imamatthaṃ abhāsatha.

Vị Sát-đế-lỵ Piyadassano đã quán tưởng ở trên đỉnh đầu rồi đã đảnh lễ cội Bồ Đề, và đã nói lên ý nghĩa này:

6/-
Bahussuto iddhimanto sīlavā susamāhito,
dassane kampiyaṃ mayhaṃ atappeyyaṃ mahājanaṃ.

Người thông thái, có thần thông, có giới hạnh, và khéo định tĩnh có thể không được hài lòng trong việc nhìn thấy trẫm là nhân vật quan trọng lại tỏ vẻ chao động.”

7/-
Tattha kanditvā roditvā oloketvāna dassanaṃ,
khattiyo paṭinivattitvā agamā sakanivesanaṃ.

Tại đó, sau khi đã than vãn, khóc lóc, rồi nhìn xem quang cảnh, vị Sát-đế-lỵ đã quay trở về và đi đến cung điện của mình.

8/-
Udake nimmitā nāgā devākāse ca nimmitā,
rukkhe ca nimmitā devā nāgā nivesanampi ca.

9/-
Parivārayiṃsu te sabbe gacchantaṃ bodhimuttamaṃ,
amanāpā pisācā ca bhūtakumbhaṇḍarakkhasā.

Các loài rồng ngự ở trong nước, chư thiên ngự ở trên không trung, chư thiên ngự ở trên cây, các loài rồng ở long cung, các loài hung thần khó chịu, và các hạng Thổ thần, Mộc thần, dạ-xoa, tất cả các hạng ấy đã tụ lại xung quanh cội Bồ Đề tối thượng đang ra đi.

10/-
Bodhiṃ paccantamāyantaṃ parivāriṃsu mānusā,
tāvatiṃsā ca yāmā ca tusitāpi ca devatā.

11/-
Nimmānaratino devā ye devā vasavattino,
bodhiṃ paccantamāyantaṃ tuṭṭhahaṭṭhā pamoditā.

Dân chúng đã tụ tập quanh cội Bồ Đề đang tiến đến gần. Chư thiên ở các cõi Tāvatiṃsa (Đạo Lợi), cõi Yāma (Dạ Ma), và cõi Tusitā (Đẩu Suất) nữa, chư thiên ở cõi Nimmānarati (Hóa Lạc Thiên), chư thiên ở cõi Vasavattī (Tha Hóa Tự Tại) vui vẻ, mừng rỡ, hoan hỷ khi cội Bồ Đề đang tiến đến khu vực lân cận.

12/-
Tettiṃsā ca devaputtā sabbe indapurakkhakā,
bodhiṃ paccantamāyantaṃ apphoṭhenti bhujampi ca.

Tất cả các vị thiên tử ở cõi Đạo Lợi có thần Indra đứng đầu cũng đã vỗ tay khi cội Bồ Đề tiến đến gần.

13/-
Kuvero dhataraṭṭho ca virūpakkho virūḷhako,
cattāro te mahārājā samantā caturodisā.

14/-
Parivārayiṃsu sambodhiṃ gacchantaṃ dīpalaṅkataṃ,
mahāmukhapaṭahārā divillātatadindimā.

Bốn vị Đại Thiên Vương Kuvera, Dhataraṭṭha, Virūpakkha, và Virūḷhaka ở bốn phương xung quanh đã hội tụ quanh cội Bồ Đề đang ngự đến hòn đảo Laṅkā.[2]

15/-
Bodhiṃ paccantamāyantaṃ sādhu kīlanti devatā,
pāricchattakapupphaṃ ca dibbamandāravampi ca.

16/-
Dibbacandanacuṇṇaṃ ca antalikkhe pavassati,
bodhiṃ paccantamāyantaṃ pūjayanti ca devatā.

Khi cội Bồ Đề đang tiến đến khu vực lân cận, chư thiên hò reo “Sādhu, lành thay!” và làm rơi xuống cơn mưa (gồm có) bột gỗ trầm hương của cõi trời, bông hoa san hô, và hoa Mạn-đà-la của thiên đình. Và chư thiên đã bày tỏ sự cung kính khi cội Bồ Đề đang tiến đến gần.

17/-
Campakā saraḷā nimbā nāgapunnāgaketakī,
jalaṇṇave mahābodhiṃ devā pūjenti satthuno.

Chư thiên cúng dường các loại hoa campaka, hoa saraḷā, hoa nimba, hoa nāga, hoa punnāga, và hoa ketakī đến cội Đại Bồ Đề của bậc Đạo Sư ở trên biển cả.

18/-
Nāgarājā nāgakaññā nāgapotā bahujjanā,
bhavanato nikkhamitvā pūjenti bodhimuttamaṃ.

Các vị long vương, các long nữ, các long nhi, và nhiều người đã rời khỏi nơi trú ngụ và bày tỏ sự tôn vinh đến cội Bồ Đề tối thượng.

19/-
Nānāvirāgavasanā nānārāgavibhūsitā,
sāgare taṃ mahābodhiṃ nāgā pūjenti satthuno.

20/-
Uppalaṃ kumudaṃ nīlaṃ pupphaṃ ca satapattakaṃ,
kallahāraṃ kuvalayaṃ vimuttamadhugandhikaṃ.

Ở biển cả, các loài rồng mặc y phục nhiều màu và trang điểm với vật thể có màu sắc đa dạng đã cúng dường đến cội Đại Bồ Đề ấy của bậc Đạo Sư hoa sen hồng, hoa sen trắng, và hoa sen xanh có trăm cánh, hoa súng hồng và hoa súng trắng có hương thơm ngọt ngào tỏa ngát.

21/-
Takkārikaṃ koviḷāraṃ pāṭaliṃ bimbajālakaṃ,
asokaṃ sālapupphaṃ ca missakaṃ ca piyaṅgukaṃ.

Hoa takkārika, hoa koviḷāra, hoa kèn pāṭalī, hoa bimbajāla, hoa asoka, hoa sālā xen lẫn với hoa piyaṅgu.

22/-
Nāgā pūjenti te bodhiṃ sobhati jalasāgare,
āmoditā nāgakaññā nāgarājā pamoditā.

Các con rồng ấy đã cúng dường đến cội Bồ Đề ở trên mặt biển lấp lánh. Các long nữ vui mừng, các long vương phấn khởi.

23/-
Bodhiṃ paccantamāyantaṃ nāgā kīlanti satthuno,
tattha maṇimayā bhūmi muttāphalikasanthatā.

Các con rồng thích thú khi cội Bồ Đề của bậc Đạo Sư đang tiến đến khu vực lân cận. Tại nơi ấy, mặt đất làm bằng ngọc ma-ni được trải đều với các viên ngọc trai và ngọc pha-lê.

24/-
Ārāmapokkharaṇiyo nānāpupphehi vicittā,
sattāhakaṃ vasitvāna sadevā mānusā tahiṃ.

Các khu vườn và các hồ nước được tô điểm bằng vô số bông hoa. Nhân loại cùng với chư thiên đã cư ngụ tại nơi ấy bảy ngày.

25/-
Bhavanato nikkhamitvā pūjenti bodhimuttamaṃ,
mālādāmakalāpā ca nāgakaññā ca devatā.

Các long nữ và chư thiên rời khỏi chỗ trú ngụ và cúng dường tràng hoa, vòng hoa, chùm hoa đến cội Bồ Đề tối thượng.

26/-
Āvijjhanti ca celāni sambodhiṃ parivāritā,
bodhiṃ paccantamāyantaṃ sādhu kīḷanti devatā.

Họ múa tròn các sợi dây vải, quây quần quanh cội Bồ Đề. Chư thiên hò reo “Sādhu, lành thay!” khi cội Bồ Đề đang tiến đến khu vực lân cận.

27/-
Pāricchattakapupphaṃ ca dibbamandāravampi ca,
dibbacandanacuṇṇaṃ ca antalikkhe pavassati.

Họ đã làm rơi xuống cơn mưa (gồm có) bột gỗ trầm hương của cõi trời, bông hoa san hô, và hoa Mạn-đà-la của thiên đình.

28/-
Nāgā yakkhā ca bhūtā ca sadevā atha mānusā,
jalasāgaramāyantaṃ sambodhiṃ parivāritā.

Khi ấy, các loài rồng, các dạ-xoa, các loài hữu tình, chư thiên, và nhân loại đã vây quanh cội Bồ Đề đang tiến đến ở trên mặt biển.

29/-
Tattha naccanti gāyanti vādayanti hasanti ca,
bhujaṃ poṭhenti diguṇaṃ te bodhiparivāritā.

Tại nơi ấy, họ vây quanh cội Bồ Đề, nhảy múa, đàn ca, hát xướng, cười giỡn, và vỗ hai tay.

30/-
Nāgā yakkhā ca bhūtā ca sadevā atha mānusā,
kittenti maṅgalaṃ sotthiṃ nīyante bodhimuttame.

Và khi cội Bồ Đề tối thượng đang được rước đến, các loài rồng, các dạ-xoa, các loài hữu tình, chư thiên, và nhân loại thốt lên rằng: “Ôi điều tốt đẹp và may mắn!” .

31/-
Nāgā dhajapaggahitā nīlobhāsā manoramā,
kittenti bodhiṃ uttamaṃ patiṭṭhitaṃ dīpalañjake.

Các con rồng xinh đẹp tỏa ánh sáng xanh giương lên những ngọn cờ thông báo việc cội Bồ Đề tối thượng đã được thiết lập ở trên hòn đảo Laṅkā.

32/-
Anurādhapurā rammā nikkhamitvā bahūjanā,
sambodhiṃ upasaṅkantā saha devehi khattiyā.

Đám đông dân chúng, các vị Sát-đế-lỵ cùng với các vương phi đã rời khỏi thành Anurādhapura xinh đẹp và đang tiến đến gần cội Bồ Đề.

33/-
Parivārayiṃsu sambodhiṃ sahaputtehi khattiyā,
gandhamālaṃ ca pūjesuṃ gandhagandhānamuttamaṃ.

Các vị Sát-đế-lỵ cùng với những người con trai đã vây quanh cội Bồ Đề rồi đã cúng dường tràng hoa thơm và loại hương thơm hạng nhất trong số các loại hương thơm.

34/-
Vīthiyo ca susammaṭṭhā agghiyo ca alaṅkatā,
patiṭṭhite bodhirāje kampittha paṭhavī tadā ti.

Các con đường đã được quét dọn sạch sẽ và các vật quý giá đã được trưng bày. Khi cội Bồ Đề Vương đã được trồng xuống, lúc bấy giờ quả đất đã rúng động.

35/-
Dāpesi rājā aṭṭhaṭṭha khattiye ca pan’aṭṭhasu,
sabbajeṭṭhaṃ bodhiguttaṃ rakkhituṃ bodhimuttamaṃ.

Hơn nữa, đức vua đã ra lệnh phái đến tám nhóm tám vị Sát-đế-lỵ ở tại tám nơi để bảo vệ cội Bồ Đề tối thượng; việc gìn giữ cội Bồ Đề là quan trọng hơn tất cả.

36/-
Adā sabbaparihāraṃ sabbālaṅkārabhāsuraṃ,
soḷasātha mahālekhā dharaṇī bodhigāravā.

Đức vua đã ban cho mọi niềm vinh dự và tất cả các vật trang sức rực rỡ, sau đó đã thiết lập mười sáu đường vạch lớn ở trên mặt đất vì lòng tôn kính đến cội Bồ đề.

37/-
Tathā susiñcattharaṇaṃ mahālekhaṭṭhāne ṭhapi,
kulaṃ sahassakaṃ katvā ketuchādinvapālakaṃ.

Sau khi đã thực hiện việc rải rắc khéo léo và trải đều như thế tại vị trí của các đường vạch lớn, đức vua đã bổ nhiệm một ngàn gia đình làm người bảo quản và gìn giữ các ngọn cờ.

38/-
Suvaṇṇabheriyo aṭṭha abhisekādi maṅgale,
ekaṃ janapadaṃ datvā candaguttaṃ ṭhapesi ca.

39/-
Devaguttañca pāsādaṃ bhūmiñcekaṃ yathārahaṃ,
tesaṃ kulānamaññesaṃ gāmabhoge pariccaji.

Đức vua đã ban cho tám chiếc trống bằng vàng nhằm vào dịp lễ hội như là lễ đăng quang, một địa phương, và đã thiết lập đài quan sát mặt trăng, tòa lâu đài cho việc quan sát bầu trời, cùng với một vùng đất có giá trị tương xứng. Đức vua đã ban thưởng các nguồn lợi tức ở thôn làng đến các gia đình ấy và các gia đình khác.

40/-
Rañño pañcasatā kaññā aggajātā yasassinī,
pabbājiṃsu ca tā sabbā vītarāgā samāhitā.

Năm trăm công nương dòng dõi cao quý có danh tiếng đã xuất gia. Và tất cả các cô ấy đều dứt bỏ tham ái và định tĩnh.

41/-
Kumārikā pañcasatā anulāparivāritā,
pabbajiṃsu ca tā sabbā vītarāgā ahū tadā.

Năm trăm cung nữ tùy tùng hoàng hậu Anulā đã xuất gia. Và khi ấy, tất cả các cô ấy đều dứt bỏ tham ái.

42/-
Ariṭṭho khattiyo nāma nikkhanto ca bhayaddito,
pañcasataparivāro pabbaji jinasāsane.

Vị Sát-đế-lỵ tên Ariṭṭha đã được thoát khỏi nỗi dày vò vì sợ hãi cùng với đoàn tùy tùng năm trăm người đã xuất gia trong Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng.

43/-
Sabbevārahappattā sampuṇṇā jinasāsane,
hemante paṭhame māse pupphite dharaṇīruhe,
āgato so mahābodhi patiṭṭho tambapaṇṇike’ti.

Tất cả đều thành tựu A-la-hán quả và được hoàn thiện trong Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng. Vào tháng thứ nhất của mùa lạnh lúc cây cối trên trái đất đã nở hoa, cội Đại Bồ Đề ấy đã ngự đến và đã được thiết lập ở xứ sở Tambapaṇṇi.

Bhāṇavāraṃ soḷasamaṃ.
Tụng phẩm thứ mười sáu.

Soḷasamo paricchedo.
Chương thứ mười sáu.

--ooOo--

SATTARASAMO PARICCHEDO
CHƯƠNG THỨ MƯỜI BẢY

1/-
Battiṃsa yojanaṃ dīghaṃ aṭṭhārasahi vitthataṃ,
yojanānaṃ satāvaṭṭaṃ sāgarena parikkhitaṃ.

2/-
Laṅkādīpavaraṃ nāma sabbattha ratanākaraṃ,
upetaṃ nadītaḷākehi pabbatehi vanehi ca.

Hòn đảo cao quý tên là Laṅkā có chiều dài ba mươi hai do-tuần, chiều rộng mười tám do-tuần, chu vi một trăm do-tuần, có biển cả bao bọc xung quanh, có mỏ châu báu ở khắp nơi, được thiên nhiên ưu đãi với nhiều sông, hồ, núi, rừng.

3/-
Dīpaṃ puraṃ ca rājā ca uddesikañca dhātuyo,
thūpaṃ dīpaṃ pabbatañca uyyānaṃ bodhi bhikkhunī.

4/-
Bhikkhu ca buddhaseṭṭho ca terasa honti te tahiṃ,
ekadese catunnāmaṃ suṇātha mama bhāsato.

Mười ba chủ đề về xứ sở ấy là: hòn đảo, thành phố, đức vua, sự kiện nổi bật, các viên xá-lợi, ngôi bảo tháp, điểm tựa, núi non, vườn hoa, cội Bồ Đề, tỳ khưu ni, tỳ khưu, đức Phật tối thượng. Xin quý vị hãy lắng nghe lời tôi trình bày về mỗi một chủ đề (trong thời kỳ) của bốn vị Phật:

5/-
Ojadīpaṃ varadīpaṃ maṇḍadīpanti vuccati,
laṅkādīpavaraṃ nāma tambapaṇṇīti ñāyati.

Hòn đảo Laṅkādīpa cao quý được gọi là Ojadīpa, Varadīpa, Maṇḍadīpa, và được biết đến với tên là Tambapaṇṇi.

6/-
Abhayaṃ vaḍḍhamānaṃ ca visālamanurādhakaṃ,
purassetaṃ catunnāmaṃ catubuddhāna sāsane.

Abhaya, Vaḍḍhamāna, Visāla, Anurādhapura là bốn thành phố trong thời kỳ Giáo Pháp của bốn vị Phật.

7/-
Abhayo ca samiddho ca jayanto ca narādhipo,
devānampiyatisso ca rājāno honti cāturo.

Abhayo, Samiddho, vị chúa tể Jayanto, và Devānampiyatissa là bốn vị quân vương.

8/-
Rogadubbuṭṭhikaṃ c’eva vivādo yakkhavāsanā,
caturo upaddutā ete catubuddhavinoditā,
kakusandhassa buddhassa dhātvāsi dhammakārako.

Bốn điều khuấy rối là tật bệnh, nạn hạn hán, sự tranh cãi, việc cư ngụ của loài dạ-xoa, những điều này đã được bốn vị Phật diệt tận. Xá-lợi của đức Phật Kakusandha là vật dụng lọc nước.

9/-
Konāgamanabuddhassa dhātvāsi kāyabandhanaṃ,
kassapassa munindassa dhātvāsi jalasāṭikā.

Xá-lợi của đức Phật Konāgamana là dây thắt lưng. Xá-lợi của bậc Ẩn Sĩ Vương Kassapa là y choàng tắm.

10/-
Gotamassa sirīmato doṇaṃ sārīrikā ahū,
abhaye paṭiyārāmo vaḍḍhamānassa uttaro.

11/-
Visāle pācīnārāmo thūpārāmo’nurādhake,
dakkhiṇe caturothūpā catubuddhāna sāsane.

Và một phần (doṇa) di thể xá-lợi của đấng Quang Vinh Gotama. (Bảo tháp) Paṭiyārāma là ở tại Abhaya, Uttara ở vaḍḍhamāna, Pācīnārāmo ở Visāla, Thūpārāma ở Anurādhapura là bốn ngôi bảo tháp ở phía nam trong thời kỳ Giáo Pháp của bốn vị Phật.

12/-
Kadambakassa sāmantā nagaraṃ abhayampuraṃ,
tissataḷākasāmantā nagaraṃ vaḍḍhamānakaṃ.

Thành phố Abhayapura ở kề cận (hồ) Kalambaka, thành phố Vaḍḍhamānaka ở kề cận hồ Tissa.

13/-
Khemataḷākasāmantā visālaṃ nagaraṃ ahū,
anurādhapure tattha catuddīpavicāraṇā.

Thành phố Visāla ở kề cận hồ Khema. Ở xứ sở ấy, trong thành Anurādhapura có sự điều tra về bốn điểm tựa.

14/-
Devakūṭo sīlakūṭo subhakūṭo’ti vuccati,
sumaṇakūṭo cedāni catupaṇṇanti pabbate.

Và bốn ngọn núi gọi là Devakūṭa, Sīlakūṭa, Subhakūṭa, và Sumaṇakūṭa ngày nay ở tại núi Catupaṇṇa (Tứ Diệp).

15/-
Mahātitthavanuyyānaṃ mahānāmaṃ ca sāgaraṃ,
mahāmeghavanaṃ nāma vattetumariyāpathaṃ.

(Bốn) khu lâm viên Mahātittha, Mahānāma, Sāgaraṃ, Mahāmeghavana gọi là di tích của các Thánh Nhân lưu truyền lại.

16/-
Catunnaṃ lokanāthānaṃ paṭhamamāhu senāsanaṃ,
kakusandhassa munino sirīsabodhimuttamaṃ.

Sàng tọa đầu tiên của bốn vị Lãnh Đạo thế gian là: Cội cây Bồ Đề Sirīsa tối thượng của bậc ẩn sĩ Kakusandha.

17/-
Ādāya dakkhiṇaṃ sākhaṃ rucīnandā mahiddhikā,
ojadīpe mahātitthe ārāme tattha ropitā.

Vị ni Rucīnandā có đại thần lực đã mang đi nhánh cây ở hướng nam rồi trồng xuống ở nơi ấy, tại tu viện Mahātittha trên hòn đảo Ojadīpa.

18/-
Konāgamanabuddhassodumbaram bodhimuttamaṃ,
ādāya dakkhiṇaṃ sākhaṃ kandanandā mahiddhikā.

Cội cây Bồ Đề Udumbara tối thượng của đức Phật Konāgamana. Vị ni Kandanandā có đại thần lực đã mang đi nhánh cây ở hướng nam.

19/-
Varadīpe mahānāme ārāme tattha ropitā,
kassapassa munindassa nigrodhabodhimuttamaṃ.

Rồi trồng xuống ở nơi ấy, tại tu viện Mahānāma trên hòn đảo Varadīpa. Cội cây Bồ Đề Nigrodha tối thượng của vị Ẩn Sĩ Vương Kassapa.

20/-
Ādāya dakkhiṇaṃ sākhaṃ sudhammā ca mahiddhikā,
sāgare nāma ārāme ropitaṃ dumacetiyaṃ.

Và vị ni Sudhammā có đại thần lực đã mang đi nhánh cây ở hướng nam. Cội cây thiêng liêng đã được trồng xuống tại tu viện tên là Sāgara.

21/-
Gotamassa munindassa assatthabodhimuttamaṃ,
ādāya dakkhiṇaṃ sākhaṃ saṅghamittā mahiddhikā,
mahāmeghavane ramme ropitā dīpalañjake.

Cội cây Bồ Đề Assattha tối thượng của vị Ẩn Sĩ Vương Gotama. Vị ni Saṅghamittā có đại thần lực đã mang đi nhánh cây ở hướng nam rồi đã trồng xuống tại khu vườn Mahāmeghavana xinh đẹp ở trên hòn đảo Laṅkā.

22/-
Rucinandā kandanandā sudhammā ca mahiddhikā,
bahussutā saṅghamittā chaḷabhiññā vicakkhaṇā.

Rucinandā, Kandanandā, Sudhammā có đại thần lực, và vị đa văn Saṅghamittā có sáu thắng trí và sự sáng suốt.

23/-
Catasso tā bhikkhuniyo sabbā ca bodhimāharuṃ,
sirīso ca mahātitthe mahānāme udumbaro.

Tất cả bốn vị tỳ khưu ni ấy đều đã mang lại cây Bồ Đề: cây Sirīsa ở tại Mahātittha, cây Udumbara ở Mahānāma.

24/-
Mahāsāgaramhi nigrodho assattho meghavane tadā,
acale caturārāme catubodhi patiṭṭhitā.

Cây Nigrodha ở Mahāsāgara, cây Assattha ở Meghavana. Khi ấy, bốn cội Bồ Đề được an vị tại bốn tu viện ở trên núi.

25/-
Tattha senāsanaṃ rammaṃ catubuddhāna sāsane,
mahādevo chaḷabhiñño sumano paṭisambhido.

Xứ sở ấy có sàng tọa xinh đẹp trong thời kỳ Giáo Pháp của bốn vị Phật. Mahādeva là vị có sáu thắng trí, Sumana có tuệ phân tích.

26/-
Mahiddhiko sabbanando mahindo ca bahussuto,
ete therā mahāpaññā tambapaṇṇipasādakā.

Sabbananda có đại thần lực, và Mahinda là vị đa văn, các vị trưởng lão ấy có đại trí tuệ và là những người đem lại niềm tin cho xứ sở Tambapaṇṇi.

27/-
Kakusandho salokaggo pañcacakkhūhi cakkhumā,
sabbalokaṃ avekkhanto ojadīpavar’addasa.

Bậc Hữu Nhãn Kakusandha tối thượng ở thế gian, trong lúc dùng năm loại nhãn quan quán xét toàn bộ thế giới, đã nhìn thấy hòn đảo Ojadīpa.

28/-
Puṇṇakanarako nāma ahū pajjarako tadā,
dīpe tasmiṃ manussānaṃ rogo pajjarako ahū.

Khi ấy đã xảy ra cơn sốt tên là Puṇṇakanaraka. Cơn sốt là dịch bệnh của loài người ở trên hòn đảo ấy.

29/-
Bahujanā rogaphuṭṭhā bhantamacchā thale yathā,
ṭhitā socanti te sabbe dummanā dukkhitā narā.

Nhiều người đã bị mắc bệnh giống như những con cá giẫy giụa ở trên mặt đất. Tất cả những người đứng than vãn ấy đều là những người bị khổ đau và có trí tuệ tồi.

30/-
Bhayaṭṭitā na labbhanti cittamhi sukhamattano,
disvāna dukkhite satte rogābādhena pīḷite.

Bị hành hạ bởi nỗi sợ hãi, họ không thể đạt được trạng thái an lạc ở trong tâm. Đức Phật đã nhìn thấy chúng sanh bị hành hạ khổ sở bởi cơn dịch bệnh.

31/-
Cattālīsasahassehi kakusandho vināyako,
rogānaṃ mocanatthāya jambudīpā idhāgato.

Đấng Lãnh Đạo Kakusandha cùng với bốn mươi ngàn (vị tỳ khưu) đã từ Jambudīpa đi đến nơi đây nhằm mục đích diệt trừ các loại tật bệnh.

32/-
Cattālīsasahassā te chaḷabhiññā mahiddikā,
parivārayiṃsu sambuddhaṃ nabhe candaṃ va tārakā.

Bốn mươi ngàn vị ấy đều có sáu thắng trí và có đại thần lực đã tháp tùng bậc Chánh Đẳng Giác tương tợ như mặt trăng và các ngôi sao ở trên bầu trời.

33/-
Kakusandho lokanātho devakūṭamhi pabbate,
obhāsetvāna devañca patiṭṭhāsi sasāvako.

Ở tại hòn núi Devakūṭa, đấng Lãnh Đạo thế gian Kakusandha đã chiếu sáng cả bầu trời và đã cư ngụ cùng với các đệ tử.

34/-
Ojadīpe devakūṭaṃ obhāsetvā patiṭṭhitaṃ,
sabbe maññanti devova na jānanti tathāgataṃ.

Tất cả đều nghĩ rằng Ngài là vị thiên thần chứ không biết đức Như Lai đã chiếu sáng ngọn núi Devakūṭa trên hòn đảo Ojadīpa rồi mới an trú.

35/-
Udentaṃ aruṇuggamhi puṇṇamāyaṃ uposathe,
ujjālesi ca taṃ selaṃ lokanātho sakānanaṃ.

Vào ngày trăng tròn là ngày lễ Uposatha, khi rạng đông đang mọc lên, vị Lãnh Đạo thế gian đã làm rực sáng hòn núi ấy luôn cả khu rừng nữa.

36/-
Disvā selaṃ jalamānaṃ obhāsentaṃ catuddisaṃ,
tuṭṭhahaṭṭhā janā sabbe sarājā abhaye pure.

Sau khi nhìn thấy hòn núi rực cháy và chói sáng cả bốn phía, toàn thể dân chúng luôn cả đức vua ở trong thành Abhaya đã vui mừng hớn hở.

37/-
Sasāvakaṃ maṃ passantu ojadīpaṭṭhitā ime,
iti buddho adhiṭṭhāsi kakusandho vināyako.

Đức Phật, vị Lãnh Đạo Kakusandha, đã chú nguyện rằng: Những người cư ngụ ở hòn đảo Ojadīpa này hãy trông thấy ta và các đệ tử.”

38/-
Sammato devakūṭoti manussehyabhipatthito,
upaddave pajjarake manussā balavāhanā.

Ngọn núi Devakūṭa được mọi người kính trọng và ngưỡng mộ. Dân chúng và lực lượng binh lính đang trong cơn khốn khổ và tật bệnh.

39/-
Nikkhamitvā janā sabbe sarājā abhayapurā,
tattha gantvā namassanti kakusandhaṃ naruttamaṃ.

Tất cả mọi người cùng với đức vua đã rời khỏi thành phố Abhaya. Sau khi đi đến nơi ấy, họ đã đảnh lễ vị Tối Thượng Nhân Kakusandha.

40/-
Namassitvāna sambuddhaṃ rājasenā saraṭṭhakā,
devo’ti taṃ maññamānā āgatā te mahājanā.

Đoàn quân của đức vua và cư dân trong xứ sở đã đảnh lễ đấng Chánh Đẳng Giác. Trong lúc nghĩ rằng vị ấy là “Thiên Thần,” đám đông người ấy đã tiến lại.

41/-
Upasaṅkamma sambuddhaṃ idaṃ vacanambravuṃ,
adhivāsetu me bhagavā saddhiṃ bhikkhugaṇena ti.

Sau khi đến gần, họ đã nói lời này với đấng Chánh Đẳng Giác: “Xin đức Thế Tôn cùng với hội chúng tỳ khưu chấp nhận (lời mời của) con.

42/-
Ajjatanāya bho bhattaṃ gacchāma nagaraṃ mayaṃ,
adhivāsesi sambuddho tuṇhī rājassa bhāsitaṃ.

Thưa ngài, về bữa ăn của ngày hôm nay thì chúng ta hãy đi vào thành phố.” Đấng Chánh Đẳng Giác đã im lặng chấp nhận lời mời của đức vua.

43/-
Saraṭṭhakā rājasenā viditvā adhivāsanaṃ
pūjāsakkārabahūte kātuṃ puramupāgamuṃ.

Sau khi nhận biết sự nhận lời, đoàn quân của đức vua và dân cư trong xứ sở đã thể hiện nhiều sự tôn vinh và kính trọng rồi đã trở về thành phố.

44/-
Mahā ayaṃ bhikkhusaṅgho janakāyo anappako,
nagaraṃ atisambādhaṃ akatā bhūpurā mayā.

(Đức vua suy nghĩ rằng): “Hội chúng tỳ khưu này là đông đảo, đám dân chúng không phải là ít, thành phố quá chật chội, ta không thể thực hiện ở khuôn viên thành phố.

45/-
Atthi mayhaṃ vanuyyānaṃ mahātitthaṃ manoramaṃ,
asambādhaṃ adūraṭṭhaṃ pabbajitānulomikaṃ.

Ta có khu lâm viên Mahātittha xinh xắn, không đông đúc, không xa, thích hợp với các vị xuất gia.

46/-
Paṭisallānasāruppaṃ paṭirūpaṃ mahesino,
tatthāhaṃ buddhapamukhe saṅghe dassāmi dakkhiṇaṃ.

Thuận tiện cho việc thiền tịnh, xứng đáng với bậc Đại Ẩn Sĩ. Ta sẽ dâng cúng phẩm vật đến hội chúng có đức Phật đứng đầu ở tại nơi ấy.

47/-
Sabbo jano supasseyya buddhaṃ saṅghañca uttamaṃ,
cattālīsasahassehi bhikkhūhi saṃpurakkhato.

Toàn thể dân chúng có thể nhìn thấy rõ ràng đức Phật và hội chúng tối thượng.” Đức Phật được tháp tùng bởi bốn mươi ngàn vị tỳ khưu.

48/-
Kakusandho lokavidū mahātitthamapāpuṇi,
patiṭṭhite mahātitthe uyyāne dipaduttame.

49/-
Sañchannākālapupphehi mandena calitā dumā,
suvaṇṇamayabhiñkāraṃ samādāya mahīpati.

Đấng Thông Suốt Thế Gian Kakusandha đã đi đến Mahātittha. Và khi bậc Tối Thượng Nhân đã ngự đến khu vườn Mahātittha, các thân cây với các bông hoa sái mùa bao phủ đã khe khẽ rúng động. Đức vua đã cầm lấy bình rưới nước làm bằng vàng.

50/-
Onojetvāna taṃ tattha jalaṃ hatthe akārayi,
im’āhaṃ bhante uyyānaṃ dadāmi buddhapāmukhe.

Tại nơi ấy, đức vua đã rưới nước ấy ở trên tay (đức Phật) và nói rằng: “Bạch Ngài, trẫm xin cúng dường khu vườn này đến hội chúng có đức Phật đứng đầu.

51/-
Phāsuvihāraṃ saṅghassa rammaṃ senāsanaṃ subhaṃ,
paṭiggahesi uyyānaṃ kakusandho vināyako.

(Khu vườn) là chỗ trú ngụ tốt đẹp xinh xắn và là nơi sống thoải mái cho hội chúng.” Đấng Lãnh Đạo Kakusandha đã nhận lãnh khu vườn.

52/-
Pakampi dharaṇī tattha paṭhame senāsane tadā,
disvā paṭhavikampetaṃ ṭhito lokagganāyako.

Tại nơi ấy, quả đất đã rúng động. Khi ấy là trú xứ thứ nhất. Nhìn thấy sự rúng động của trái đất, vị Lãnh Đạo thế gian đã đứng yên.

53/-
Aho nūna rucinandā bodhiṃ hareyya cintayī,
kakusandhassa buddhassa cittamaññāya bhikkhunī.

Và Ngài đã suy nghĩ rằng: “Ồ, đương nhiên là Rucinandā sẽ mang cội Bồ Đề đến!” Vị tỳ khưu ni đã nhận biết được tâm ý của đức Phật Kakusandha.

54/-
Gantvā sirīsasambodhimūle ṭhatvā mahiddhikā,
buddho icchati bodhissa ojadīpamhi rohanaṃ.

Vị ni có đại thần lực đã đi đến và đứng ở gốc cây Bồ Đề Sirīsa (nghĩ rằng): Đức Phật mong muốn sự phát triển của cội Bồ Đề ở hòn đảo Ojadīpa.”

55/-
Manusā cintayantā taṃ bodhiṃ haritumāgatā,
buddhaseṭṭhenānumataṃ anukampāya pāṇinaṃ.

Dân chúng đang suy nghĩ và đi đến để rước cội cây Bồ Đề ấy là vật được đức Phật tối thượng chấp thuận vì lòng thương tưởng chúng sanh.

56/-
Mama iddhānubhāvena sākhā dakkhiṇa muccatu,
rucinandā ṭhitā vākyaṃ vuccamānā katañjalī.

Vị ni Rucinandā đã đứng yên chắp tay nói lên lời khấn nguyện rằng: “Do nhờ oai lực thần thông của tôi, xin cho nhánh cây ở phía nam hãy tách ra.”

57/-
Muñcitvā dakkhiṇā sākhā patiṭṭhāsi kaṭāhake,
gahetvāna rucinandā bodhiṃ hemakaṭāhake.

Nhánh cây ở phía nam đã tách ra và ngự xuống ở trong cái chậu. Rucinandā đã nhận lấy cội cây Bồ Đề ở trong cái chậu bằng vàng.

58/-
Pañcasatabhikkhunīhi āgatā parivāritā,
tadāpi paṭhavī kampi sasamuddaṃ sapabbataṃ.

Được tùy tùng bởi năm trăm vị tỳ khưu ni, Rucinandā đã đi đến. Khi ấy, thậm chí trái đất, cùng với biển cả, và núi non đã rúng động.

59/-
Āloko ca mahā āsi abbhuto lomahaṃsano,
disvā attamanā sabbe rājasenā saraṭṭhakā,
añjaliṃ paggahetvāna namiṃsu bodhimuttamaṃ.

Và đã xảy ra một quanh cảnh vĩ đại phi thường khiến lông tóc dựng đứng. Sau khi chứng kiến, toàn thể đoàn quân của đức vua và dân cư trong xứ sở đã khởi tâm hoan hỷ chắp tay lên đảnh lễ cội Bồ Đề tối thượng.

60/-
Āmoditā tadā sabbe devatā haṭṭhamānasā,
ukkuṭṭhikaṃ pavattesuṃ disvā bodhitaruttamaṃ.

Khi ấy, tất cả chư thiên trở nên mừng rỡ, có tâm tư hoan hỷ, và đã khởi sự reo hò khi được nhìn thấy cội Bồ Đề tối thượng.

61/-
Cattāro ca mahārājā lokapālā yasassino,
rakkhaṃ sirīsabodhissa akaṃsu devatā tadā.

Và bốn vị đại (thiên) vương là những người hộ trì thế gian có danh tiếng. Khi ấy, chư thiên đã thực hiện việc canh giữ cội Bồ Đề Sirīsa.

62/-
Tāvatiṃsā ca ye devā ye devā vasavattino,
yamo sakko suyāmo ca santusito sunimmito,
sabbe te parivāresuṃ sirīsabodhimuttamaṃ.

Chư thiên ở cõi Tāvatiṃsa và chư thiên ở cõi Vasavatti như là vị Yama, Sakka, Suyāma, Santusita, Sunimmita, tất cả các vị ấy đã vây quanh cội Bồ Đề Sirīsa tối thượng.

63/-
Añjaliṃ paggahetvāna devasaṅghā pamoditā,
sah’eva rucinandāya pūjenti bodhimuttamaṃ.

Được hoan hỷ, hội chúng chư thiên luôn cả Rucinandā đã chắp tay lên và tôn vinh cội Bồ Đề tối thượng.

64/-
Sirīsabodhimādāya rucinandā mahiddhikā,
bhikkhunīhi paribbūḷhā ojadīpavaraṃ gami.

Vị ni Rucinandā có đại thần lực đã nhận lấy cội Bồ Đề Sirīsa rồi đã được các tỳ khưu ni tháp tùng đi đến hòn đảo Ojadīpa cao quý.

65/-
Devā naccanti gāyanti poṭhenti diguṇaṃ bhujaṃ,
ojadīpavaraṃ yantaṃ sirīsabodhimuttamaṃ.

Chư thiên nhảy múa, ca hát, vỗ cả hai tay khi cội Bồ Đề Sirīsa tối thượng đang di chuyển đến hòn đảo Ojadīpa cao quý.

66/-
Devasaṅghaparibbūḷhā rucinandā mahiddhikā,
sirīsabodhimādāya kakusandhamupāgami.

Vị ni Rucinandā có đại thần lực được hội chúng chư thiên tháp tùng đã mang cội Bồ Đề Sirīsa đi đến gặp đức Phật Kakusandha.

67/-
Tamhi kāle mahāvīro kakusandho vināyako,
mahātitthavanuyyāne bodhiṭṭhāne patiṭṭhito.

Vào lúc ấy, đấng Đại Hùng tức là vị lãnh đạo Kakusandha đã đứng tại vị trí (sẽ trồng) cội Bồ Đề ở trong khu lâm viên Mahātittha.

68/-
Rucinandā sayaṃ bodhiṃ obhāsentaṃ na ropayi,
disvā munī kakusandho pattharī dakkhiṇaṃ bhujaṃ.

Rucinandā đã không tự mình trồng xuống cội Bồ Đề rực rỡ. Thấy thế, đấng Hiền Triết Kakusandha đã duỗi cánh tay phải ra.

69/-
Bodhiyā dakkhiṇaṃ sākhaṃ rucinandā mahiddhikā,
buddhassa dakkhiṇe hatthe ṭhapayitvābhivādayi.

Vị ni Rucinandā có đại thần lực đã đặt nhánh cây phía nam của cội Bồ Đề vào tay phải của đức Phật rồi đã đảnh lễ.

70/-
Parāmasitvā lokaggo kakusandho narāsabho,
raññobhayassa padāsi idha ṭhānamhi ropaya.

Bậc Tối Thắng của thế gian Kakusandha, vị chúa tể của loài người, đã nắm lấy rồi trao cho đức vua Abhaya (nói rằng): Hãy trồng xuống ở nơi đây, tại vị trí này.”

71/-
Yamhi ṭhānamhi ācikkhi kakusandho narāsabho,
tamhi ṭhānamhi ropesi abhayo raṭṭhavaḍḍhano.

Đấng chúa tể của loài người Kakusandha đã chỉ định vị trí nào thì vị có công khuếch trương quốc độ Abhaya đã trồng xuống tại vị trí ấy.

72/-
Ṭhite sirīsabodhimhi bhūmibhāge manorame,
buddho dhammamadesayi catusaccappakāsato.

Khi cội Bồ Đề Sirīsa đã được an vị ở trong khuôn viên khu đất xinh đẹp, đức Phật đã thuyết giảng Giáo Pháp giảng giải về bốn Chân Lý (Khổ Tập Diệt Đạo).

73/-
Satasahassañcosāne cattāḷīsasahassakaṃ,
manussānamabhisamayo devānaṃ tiṃsakoṭiyo.

Và khi kết thúc là thời điểm chứng ngộ của một trăm bốn mươi ngàn người và ba mươi koṭi chư thiên.

74/-
Sirīso kakusandhassa konāgamanass’udumbaro,
kassapassāpi nigrodho tayo bodhi idhāharuṃ.

(Cội Bồ Đề) Sirīsa là của đức Phật Kakusandha, Udumbara là của đức Phật Konāgamana, Nigrodha là của đức Phật Kassapa. Các vị đã mang ba cội Bồ Đề đến nơi đây.

75/-
Sakyaputtassāsamassa bodhi assatthamuttamaṃ,
āharitvāna ropiṃsu mahāmeghavane tadā.

Cội Bồ Đề là của người con tối thắng dòng Sākya là cội cây Assattha tối thượng. Khi ấy, họ đã mang lại và trồng xuống ở trong khu vườn Mahāmeghavana.

76/-
Muṭasīvassa atrajā ath’aññe dasa bhātaro,
abhayo tisso nāgo ca utti mattābhayopi ca.

77/-
Mitto sīvo aselo ca tisso khīro ca honti’me,
sīvalī anulā ceti muṭasīvassa dhītaro.

Khi ấy, những người con trai của đức vua Muṭasīva là mười anh em khác nhau. Những người này là Abhaya, Tissa, Nāga, Utti, Mattābhaya, Mitta, Sīva, Asela, Tissa, và Khīra. Sīvalī và Anulā là (hai) người con gái của đức vua Muṭasīva.

78/-
Tadā ca vijayo agā laṅkādīpavaruttamaṃ,
yadā abhisitto rājā muṭasīvassa atrajo,
etthantare yaṃ gaṇitaṃ vassaṃ bhavati kittakaṃ.

Và kể từ khi Vijaya đi đến hòn đảo Laṅkā tối thượng cho đến khi vị vua là người con trai của Muṭasīva được đăng quang, khoảng giữa hai thời điểm ấy được tính là bao nhiêu năm?

79/-
Dve satāni ca vassāni chattiṃsā ca punāparā,
devānampiyatisso ca’bhisitto nibbute jine.

Đức vua Devānampiyatissa đã được đăng quang sau hơn hai trăm ba mươi sáu năm kể từ khi đấng Chiến Thắng Niết Bàn.

80/-
Tassābhisekena samaṃ āgatā rāja iddhiyo,
phariṃsu puññatejāni tambapaṇṇimhi nekadhā.

Nhờ vào lễ đăng quang, các quyền hành của đức vua đã thành tựu cho vị ấy. Các oai lực phước báu đã tỏa rạng ở tại Tambapaṇṇi theo nhiều cách thức.

81/-
Ratanākaraṃ tadā āsi laṅkādīpamathuttamaṃ,
tissassa puññatejena uggatā ratanā bahū.

Khi ấy, hòn đảo Laṅkā đứng hàng đầu về hầm mỏ châu ngọc. Do nhờ oai lực phước báu của Tissa, nhiều loại châu ngọc đã nổi lên.

82/-
Disvāna ratanaṃ rājā haṭṭho’daggamānaso,
paṇṇākāraṃ karitvāna dhammāsokassa pāhiṇi.

Nhìn thấy châu ngọc, đức vua đã khởi tâm tư hớn hở vui mừng rồi đã thực hiện phần quà biếu gởi đến đức vua Asoka công chính.

83/-
Disvāna taṃ paṇṇākāraṃ asokottamano ahū,
abhisekāya pāhesi anekaṃ ratanaṃ puna,
devānampiyatissa tambapaṇṇamhi uttame.

Sau khi nhìn thấy phần quà biếu ấy, đức vua Asoka đã trở nên hoan hỷ và đã gởi biếu lại rất nhiều châu báu cho lễ đăng quang của đức vua Devānampiyatissa ở tại xứ Tambapaṇṇi tối thắng.

84/-
Vālavījanimuṇhīsaṃ chattaṃ khaggaṃ ca pādukaṃ,
veṭhanaṃ sārapāmaṅgaṃ bhiṅkāraṃ nandivaṭṭakaṃ.

(Gồm có): Cây quạt lông thú, vương miện, lọng che, thanh gươm và giày dép, khăn đội đầu, dây thắt lưng loại mịn, bình rưới nước, vòng hoa khánh hỷ.

85/-
Sivikaṃ saṅkhavataṃsaṃ dhovimaṃ vatthakoṭikaṃ,
sovaṇṇapāti kaṭacchuṃ mahagghaṃ handupuñchanaṃ.

Kiệu khiêng, tù và vỏ ốc, vải hạng nhất không cần phải giặt, khay vàng, muỗng, khăn tay đắt giá.

86/-
Anotattodakaṃ kājaṃ uttamaṃ haricandanaṃ,
mattikāruṇavaṇṇañca añjanaṃ pannagāhaṭaṃ.

Gùi nước từ hồ Anotatta, trầm hương vàng tuyệt hảo, đất sét (để tắm) màu ráng đỏ, thuốc bôi mắt do loài rồng mang lại.

87/-
Harītakaṃ āmalakaṃ mahagghaṃ amatosadhaṃ,
saṭṭhivāhasataṃ sāliṃ sugandhaṃ ca suvāhaṭaṃ.

Hai loại trái cây harītakaāmalaka, nước cam-lồ bất tử vô cùng quý giá, một trăm sáu mươi xe gạo thơm sāli đã được các con chim két mang lại.

88/-
Puññakammāhi nibbataṃ paṇṇākāraṃ manoramaṃ,
laṅkābhiseke tissassa dhammāsokena pesito,
punābhisitto so rājā tambapaṇṇimhi issaro.

Đức vua Asoka công chính đã gởi đi phần quà biếu thích ý được phát sanh lên do các nghiệp thiện đến đức vua Tissa trong lễ đăng quang ở Laṅkā. Vị vua ấy là chúa tể ở xứ Tambapaṇṇi đã được phong vương lần nữa.

89/-
Dutiyābhiseke tass’atikkantaṃ tiṃsarattiyo,
mahindo gaṇapāmokkho jambudīpā idhāgato.

Khi lễ đăng quang lần thứ nhì của đức vua đã trải qua được ba mươi đêm thì ngài trưởng nhóm Mahinda đã từ Jambudīpa đi đến nơi đây.

90/-
Kārāpesi vihāraṃ so tissārāmamanuttaraṃ,
patiṭṭhapesi mahābodhiṃ mahāmeghavane tadā.

Đức vua Devānampiyatissa đã cho xây dựng tu viện Tissārāma tuyệt vời và khi ấy đã cho thiết lập cội Đại Bồ Đề ở khu vườn Mahāmeghavana.

91/-
Patiṭṭhapesi so thūpaṃ mahantaṃ rāmaṇeyyakaṃ,
devānampiyatissako’rāmaṃ cetiyapabbate.

Đức vua Devānampiyatissa ấy đã cho thiết lập ngôi bảo tháp vĩ đại xinh đẹp và tu viện ở ngọn núi Cetiyapabbata.

92/-
Thūpārāmaṃ ca kāresi vihāraṃ missakavhayaṃ,
vessagiriṃ ca kāresi colakatissanāmakaṃ.

Đức vua đã cho xây dựng tu viện Bảo Tháp (Thūpārāma), chủng viện có tên là Missaka, và còn cho xây dựng tu viện Vessagiri và tu viện Colakatissa.

93/-
Yojane yojane ṭhāne ārāmo tena kārito,
patiṭṭhapesi so tattha dhātuyo ca yathārahaṃ,
cattārīsampi vassāni rajjaṃ kāresi khattiyo’ti.

Ở tại mỗi địa điểm khoảng cách một do-tuần, đức vua đã cho xây dựng một tu viện. Tại nơi ấy, đức vua đã cho an trí các xá-lợi một cách trọng thể tương xứng. Vị Sát-đế-lỵ đã trị vì vương quốc được bốn mươi năm.

94/-
Muṭasīvassa atrajā ath’aññe catubhātaro,
uttiyo dasavassāni rajjaṃ kāresi khattiyo.

Sau đó, bốn anh em trai khác là những người con trai của đức vua Muṭasīva. Vị Sát-đế-lỵ Uttiya đã trị vì vương quốc được mười năm.

95/-
Aṭṭhavassābhisittassa nibbuto dīpajotako,
akā sarīranikkhepaṃ tissārāme puratthime.

Tám năm sau lễ đăng quang, đấng quang đăng Mahinda đã Niết Bàn. Việc tống táng thi thể đã được thực hiện ở phía đông của tu viện Tissārāma.

96/-
Paripuṇṇadvādasavasso mahindo ca idhāgato,
saṭṭhivasse paripuṇṇe nibbuto cetiye nage.

Ngài Mahinda đã đi đến nơi đây khi tròn đủ mười hai năm (thâm niên) và đã Niết Bàn tại núi Cetiya khi tròn đủ sáu mươi năm (thâm niên).

97/-
Alaṅkaritvā maggaṃ mālagghitoraṇādīhi,
padīpe jālayitvāna nibbute dīpajotake.

98/-
Rājā kho uttiyo nāma kūṭāgāraṃ ca uttamaṃ,
dassaneyyaṃ akāresi pūjesi dīpajotakaṃ.

Khi đấng quang đăng Mahinda đã Niết Bàn, đức vua tên Uttiya đã trang hoàng đường xá, cổng chào, tràng hoa giá trị, v.v..., đã thắp sáng các ngọn đèn, đã thực hiện xe tang (dáng nhà mái nhọn) hạng nhất, rồi đã cúng dường đến đấng quang đăng đáng được chiêm ngưỡng.

99/-
Ubho devā manussā ca nāgā gandhabbadānavā,
sabbeva dukkhitā hutvā pūjesuṃ dīpajotakaṃ.

Cả hai hạng chư thiên và nhân loại, các loài rồng, càn-thát-bà, a-tu-la, tất cả đều trở nên sầu khổ và đã tôn vinh đấng quang đăng Mahinda.

100/-
Sattāhaṃ pūpaṃ katvāna cetiye pabbatuttame,
ekacce evamāhaṃsu gacchāma nagaraṃ varaṃ.

Sau khi đã thực hiện sự cúng dường bảy ngày ở tại ngọn núi Cetiya tối thắng, một số người đã nói như vầy: “Chúng ta hãy đi đến thành phố cao quý.”

101/-
Ath’ettha vattanī saddo puthulo bheravo tadā,
idh’eva jhāpayissāma laṅkādīpassa jotakaṃ.

Khi ấy, có tiếng nói giận dữ và vang rền đã phát lên ở tại nơi ấy rằng: “Chúng ta sẽ hỏa thiêu đấng quang minh của hòn đảo Laṅkā ở ngay tại chỗ này.”

102/-
Rājā sutvāna vacanaṃ janakāyassa bhāsato,
mahācitakaṃ kāretvā tissārāmapuratthime.

Nghe theo lời nói của đám đông người đang phát biểu, đức vua đã cho thực hiện giàn hỏa thiêu vĩ đại ở tại phía đông của tu viện Tissārāma.

103/-
Sakūṭāgāramādāya mahindaṃ dīpajotakaṃ,
puratthimena nagaraṃ pavisiṃsu sarājakā.

Họ cùng với đức vua đã rước đấng quang đăng Mahinda cùng với chiếc xe tang đi vào thành phố bằng (cổng thành) phía đông.

104/-
Majjhena nagaraṃ gantvā nikkhamitvāna dakkhiṇā,
mahāvihāre sattāhaṃ mahāpūjamakaṃsu te.

Sau khi đã đi vào trung tâm thành phố rồi đi ra bằng (cổng thành) phía nam, họ đã thực hiện đại lễ cúng dường bảy ngày ở tại Mahāvihāra (Đại Tự).

105/-
Patvāna gandhacitakaṃ ubho devā ca mānusā,
ṭhapayitvā rājuyyāne pūjanatthāya subbataṃ.

Sau khi đến nơi, cả hai hạng chư thiên và nhân loại đã thiết lập giàn hỏa thiêu bằng gỗ thơm ở tại vườn thượng uyển để cúng dường đến bậc đức hạnh.

106/-
Kūṭāgāraṃ gahetvāna mahindaṃ dīpajotakaṃ,
thūpaṃ padakkhiṇaṃ katvā vandāpesumuttamaṃ.

Họ đã nắm lấy chiếc xe tang có đấng quang đăng Mahinda rồi đã nhiễu quanh đảnh lễ ngôi bảo tháp tối thắng.

107/-
Tadā puratthimadvārā nikkhamitvā mahājanā,
akaṃsu dehanikkhepaṃ bhūmibhāge manorame.

Khi ấy, đám đông dân chúng đã đi ra bằng cổng phía đông rồi đã tiến hành việc tống táng thi thể ở khuôn viên khu đất xinh đẹp.

108/-
Ārūḷhā citakaṃ sabbe rodamānā katañjalī,
abhivādetvā sirasā citakaṃ jālayiṃsu te.

Tất cả đã leo lên giàn hỏa thiêu khóc lóc, chắp tay lên. Sau khi đê đầu đảnh lễ, họ đã châm lửa giàn hỏa.

109/-
Dhātusesaṃ gahetvāna mahindassa sudhīmato,
akā thūpavaraṃ sabbesvārāmesu ca khattiyo.

Sau khi nhặt lấy phần di thể xá-lợi của ngài Mahinda thông minh, vị Sát-đế-lỵ đã cho thực hiện ngôi bảo tháp cao quý ở tất cả các tu viện.

110/-
Kataṃ sarīranikkhepaṃ mahindassa tadā yahiṃ,
isibhūmī’ti tassāyaṃ samaññā paṭhamaṃ ahū.

Khi ấy, danh hiệu đầu tiên của khu đất đã thực hiện việc tống táng thi thể của ngài Mahinda được gọi là “Isibhūmi” (khu đất của vị ẩn sĩ).

Sattarasamo paricchedo.
Chương thứ mười bảy.

Bhāṇavāraṃ sattarasamaṃ.
Dứt tụng phẩm thứ mười bảy.

--ooOoo--


[1] Một danh hiệu của thần Indra.

[2] Dòng thứ hai của câu kệ 14 mô tả về bốn vị Đại Thiên Vương, có liên quan đến trống trận (paṭaha), ... Chẳng lẽ bốn vị đang đánh trống?

-ooOoo-

Ðầu trang | 01| 02 | 03 | 04 | 05 | 06 | Mục lục

 

Chân thành cám ơn Tỳ khưu Indachanda đã gửi tặng bản vi tính (Bình Anson, 08-2005)

[Trở về trang Thư Mục]
last updated: 22-08-2005