Ngu dốt không đáng xấu hổ bằng kẻ không chịu học. (Being ignorant is not so much a shame, as being unwilling to learn.)Benjamin Franklin
Thiên tài là khả năng hiện thực hóa những điều bạn nghĩ. (Genius is the ability to put into effect what is on your mind. )F. Scott Fitzgerald
Tôi không thể thay đổi hướng gió, nhưng tôi có thể điều chỉnh cánh buồm để luôn đi đến đích. (I can't change the direction of the wind, but I can adjust my sails to always reach my destination.)Jimmy Dean
Những người hay khuyên dạy, ngăn người khác làm ác, được người hiền kính yêu, bị kẻ ác không thích.Kinh Pháp cú (Kệ số 77)
Nhà lợp không kín ắt bị mưa dột. Tâm không thường tu tập ắt bị tham dục xâm chiếm.Kinh Pháp cú (Kệ số 13)
Chúng ta sống bằng những gì kiếm được nhưng tạo ra cuộc đời bằng những gì cho đi. (We make a living by what we get, we make a life by what we give. )Winston Churchill
Đừng làm một tù nhân của quá khứ, hãy trở thành người kiến tạo tương lai. (Stop being a prisoner of your past. Become the architect of your future. )Robin Sharma
Kinh nghiệm quá khứ và hy vọng tương lai là những phương tiện giúp ta sống tốt hơn, nhưng bản thân cuộc sống lại chính là hiện tại.Tủ sách Rộng Mở Tâm Hồn
Hạnh phúc đích thực không quá đắt, nhưng chúng ta phải trả giá quá nhiều cho những thứ ta lầm tưởng là hạnh phúc. (Real happiness is cheap enough, yet how dearly we pay for its counterfeit.)Hosea Ballou
Việc đánh giá một con người qua những câu hỏi của người ấy dễ dàng hơn là qua những câu trả lời người ấy đưa ra. (It is easier to judge the mind of a man by his questions rather than his answers.)Pierre-Marc-Gaston de Lévis

Trang chủ »» Danh mục »» TỦ SÁCH RỘNG MỞ TÂM HỒN »» Tích Lan - Đạo Tình Muôn Thuở »» PHẦN II. ĐẠO TÌNH MUÔN THUỞ »»

Tích Lan - Đạo Tình Muôn Thuở
»» PHẦN II. ĐẠO TÌNH MUÔN THUỞ

(Lượt xem: 239)
Xem trong Thư phòng    Xem định dạng khác    Xem Mục lục 

       

Tích Lan - Đạo Tình Muôn Thuở - PHẦN II. ĐẠO TÌNH MUÔN THUỞ

Font chữ:


Diễn đọc: Giang Ngọc

SÁCH AMAZON



Mua bản sách in

Đã một lần như thế - Thích Như Điển

Ở đời có những chuyện thật bất ngờ, bởi vì chẳng ai tính trước được. Đa phần cuộc sống đều do chúng ta tự làm chủ, như hoạch định kế hoạch cho việc tu, việc học, đi du lịch, giao tế với bạn bè v.v… Đó là cốt lõi của cuộc sống bình thường theo chương trình làm việc của mỗi người. Nhưng cuộc sống này có muôn mặt, thay đổi muôn hình vạn trạng, đôi khi ta nghĩ vậy mà không là vậy. Cho nên, trong giáo lý của đức Phật gọi những sự thay đổi ấy là nhân duyên.

Nhân duyên là một sự tương tức, có cái này nên mới có cái kia. Có những cái ẩn tàng đâu đó trong nhiều đời nhiều kiếp, bây giờ mới hiện ra. Có những cái mình không thích, không muốn mà nó cứ hiện ra. Hoặc giả có những điều mình ưa thích mà chẳng bao giờ đến. Tất cả đều tùy thuộc vào sự tương hợp tương tác của nhân duyên.

Thầy Seelawansa, người Tích Lan, đến với tôi và chùa Viên Giác tại Hannover cũng là một sự tình cờ trong bao nhiêu sự tình cờ khác, cách đây chừng 20 năm. Vào đầu năm 1991, thầy đến Hannover và chúng tôi đã quen biết nhau từ đó. Thầy đến Áo từ năm 1982 và đã tốt nghiệp tiến sĩ triết học tại Áo, hiện là giáo sư Tôn giáo học tại Đại học Wien, thủ đô nước Áo.

Trong 20 năm quen biết đó, tôi đã đến thăm quê hương Thầy ba lần. Cứ mỗi lần như thế, tôi đều viết những bài tường thuật để đăng trên báo Viên Giác, hoặc viết thành sách như cuốn “Giữa chốn cung vàng”, để giới thiệu về quê hương Thầy cũng như Kandy - nơi xá-lợi chiếc răng của đức Phật được tôn thờ tại đó. Và lần thứ ba này là lần đặc biệt nhất.

Cách đây hai năm, Thầy Seelawansa có nhờ tôi viết một bài báo bằng tiếng Anh để giới thiệu về Thầy trong khi Thầy hướng dẫn tu học cho những người Đức và người Áo tại Âu châu. Tôi sẵn sàng và đã thực hiện điều đó. Đó cũng là hình thức giới thiệu về Thầy để được Hội đồng Tăng-già Tích Lan trao giải thưởng danh dự cao quý cho Thầy, người có công mang ánh sáng Phật pháp vào Âu châu.

Sau đó, Thầy điện thoại cho tôi biết kết quả và Thầy đã nhận lãnh giải thưởng này từ năm 2010. Tiếp theo, Thầy đề nghị Hòa thượng Thích Minh Tâm và cá nhân tôi cho giải thưởng danh dự này. Hòa thượng Thích Minh Tâm chẳng quan tâm, bảo rằng: “Để đến lúc ấy hãy tính.” Có lẽ việc đến bất ngờ quá chăng? Nên Hòa thượng Minh Tâm cũng chẳng chuẩn bị gì ngoại trừ một lý lịch trích ngang và công lao hoằng pháp của Hòa thượng tại Âu châu mà chính thầy Seelawansa đã nhiều lần tai nghe mắt thấy. Còn tôi, thầy Hạnh Giới đã bổ túc một lý lịch đầy đủ cho Thầy ấy, cả tiếng Anh và tiếng Đức.

Bẵng đi một thời gian khá lâu, một hôm thầy Seelawansa điện thoại cho tôi và báo tin rằng: Hội đồng Tăng già Tích Lan đã đồng ý trao giải thưởng cao quý về việc hoằng pháp trên thế giới của chúng tôi. Tiếp theo, Thầy có gởi mấy tờ báo địa phương đã loan tải tin này bằng tiếng Tích Lan cũng như tiếng Anh.

Sau đó, tôi có liên lạc với Hòa thượng Minh Tâm để định ngày sang Tích Lan tham dự lễ trao giải thưởng. Cuối cùng, Thủ tướng Tích Lan đã chọn ngày 8 tháng 7 năm 2011 là ngày lễ trao giải thưởng này. Vì là một tổ chức lớn, cả Hội đồng Tăng-già và Chính phủ Tích Lan nên phải định thời gian trước đó một năm. Dĩ nhiên, chúng tôi cũng không rảnh rỗi gì, vì là trong mùa an cư kiết hạ và triển lãm Phật Ngọc tại chùa Viên Giác, Hannover, mới vừa xong. Trong khi đó, phái đoàn của Hòa thượng Thích Minh Tâm gồm tám vị cũng chưa rõ là có thể đi được hay không, phải chờ đợi vào giờ chót mới biết.

Riêng báo Viên Giác cũng như trang nhà Viên Giác đã đưa tin này cả một năm qua nên phái đoàn Viên Giác tổng cộng 24 người đã đến Colombo từ ngày 3 đến ngày 14 tháng 7 năm 2011. Từ Âu châu có 16 người, Ấn Độ có 4 thầy và từ Việt Nam có 4 vị.

Ở xứ lạnh như xứ Đức cả ba bốn chục năm, nay có cơ hội về xứ ấm Á châu và sẽ được tận hưởng thời tiết, khí hậu ấm ấp khác xa nước Đức, cũng như thưởng thức đồ ăn Á châu, ai mà không thích? Nhưng tất cả cũng đều do nhân duyên sắp đặt mà thôi, vì có những người đã ghi tên rồi nhưng cuối cùng đổi ý ở nhà. Như vậy là mất đi một chuyến hành hương lý tưởng. Nhưng cũng có nhiều vị không chuẩn bị mà cuối cùng được đi. Cho nên hai chữ nhân duyên thật lạ kỳ khó hiểu như vậy.

Phái đoàn chúng tôi đến Colombo vào chiều 3 tháng 7 năm 2011. Sau khi được nhân viên Bộ Ngoại Giao chào đón theo nghi thức lễ tân, chúng tôi nhận hành lý và bước ra ngoài hành lang của phi trường để đón nhận những giọt mồ hôi đầu tiên tại xứ nhiệt đới này. Sau khi lên xe bus, phái đoàn được đưa về khách sạn gần bờ biển, cách thủ đô Colombo chừng 30 km về hướng tây bắc.

Tên gọi nước Tích Lan (Sri Lanka) có nghĩa là hòn đảo quý. Phật giáo đã có mặt tại đây từ thế kỷ 3 trước Tây lịch, nghĩa là từ khi Tỳ-kheo Mahinda, hoàng tử con vua A-dục, sang truyền bá Phật pháp và công chúa Sanghamitta (Tỳ-kheo ni) mang cây bồ-đề được chiết từ cây chính ở Bồ-đề Đạo Tràng qua trồng tại Anuradhapura. Mãi đến hôm nay, nơi đây vẫn là Thánh địa có nhiều người Phật tử đến chiêm bái, nguyện cầu, và cây bồ-đề ấy ngày nay đã hơn 2.300 năm tuổi, cành lá vẫn tốt tươi và đang đâm chồi nảy lộc vươn cao.

Vào thế kỷ 16, người Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha đã đến đây và mang theo một tôn giáo mới. Đó là Thiên Chúa giáo. Rồi người Anh đến cai trị xứ này từ thế kỷ 18. Đến đầu thế kỷ 20, người Anh trao trả độc lập cho người Tích Lan. Sau khi người Anh đi rồi, những văn hóa và tôn giáo cũ vẫn còn có mặt đó đây trong xứ sở này, mặc dù đạo Phật là quốc giáo, vốn đã ngự trị tại đây trong hơn 23 thế kỷ qua.

Ông Henry Olcott là một Đại tá quân nhân người Mỹ, vào đầu thế kỷ 20 đã đến Tích Lan. Ông chủ trương khôi phục nền văn hóa và tôn giáo của xứ này, nên được nhiều học giả, trí thức cũng như những chính trị gia trên thế giới ủng hộ. Trong đóng góp của ông có cả những đề xuất hình thành lá cờ Phật giáo ngày nay. Vào năm 1950, Liên hiệp Phật giáo Thế giới (World Fellowship of Buddhists) đã công nhận lá cờ này là biểu tượng của Phật giáo trên toàn thế giới, trong đó có Phật giáo Việt Nam.

Ngày nay, người Phật tử đến Tích Lan sẽ thấy ngã ba đường nào cũng có một tượng Phật lớn, cũng như nhà nhà đều treo cờ Phật giáo. Đây cũng là bằng chứng về sự khôi phục Phật giáo tại xứ này.

Chư tăng Tích Lan đa phần là những vị học giả nổi tiếng, như Ngài Narada có thời gian dài hoằng pháp tại chùa Kỳ Viên ở Sài Gòn. Ngài là tác giả của nhiều quyển sách, trong đó có quyển “The Buddha and His teachings” (Đức Phật và Phật pháp) do đạo hữu Phạm Kim Khánh dịch, là một tác phẩm rất quen thuộc với Phật tử Việt Nam. Cố Hòa thượng Wipulasara, Phó Chủ tịch Hội Phật giáo Tăng-già Thế giới, cũng là người Tích Lan. Ngài đã đóng góp rất lớn cho sự giao lưu giữa Đại thừa và Tiểu thừa, giữa Nam tông và Bắc tông trong Phật giáo đương đại.

Ngoài ra, những vị Hòa thượng, Thượng tọa đang hành đạo tại ngoại quốc, đa phần là những học giả Phật giáo đã được Tăng-già và chính phủ Tích Lan hỗ trợ, trong đó có Thượng tọa Tiến sĩ Seelawansa như vừa đề cập trên. Những vị ấy không chỉ lo vấn đề tinh thần cho người Phật tử Tích Lan ở hải ngoại mà còn lo cho cả người Tây phương, và kể cả Phật tử Việt Nam chúng ta. Đây là những tấm gương sáng của việc hoằng truyền ánh sáng chân lý của đức Phật đến với mọi người trên thế giới, không phân biệt màu da và tiếng nói.

Thầy Seelawansa đã có công rất lớn trong việc tổ chức lễ phát giải thưởng danh dự vào ngày 8 tháng 7. Ví dụ như sắp xếp các cuộc tiếp kiến với Tổng thống, Thủ tướng, các vị Bộ trưởng đối lập và Hội đồng Tăng-già v.v… Nhưng vấn đề giao thông của Tích Lan ngày nay là một vấn nạn lớn. Xe cộ quá nhiều mà đường sá lại quá chật, người ta không thể bay lên không trung để đến nơi đúng giờ hẹn, cho nên đoàn của chúng tôi đến Phủ Tổng thống trễ hơn 30 phút, khiến cho Tổng thống phải chờ đợi, đúng như tục ngữ Việt Nam có câu là “Quan cần dân trễ.” Người đại diện Phủ Tổng thống lo về vấn đề tôn giáo là ông A. M. Ratnayake hôm đó đã lên xe bus của chúng tôi để chào hỏi và thông báo thật đáng tiếc là Tổng thống không thể chờ lâu hơn nên lần này không thể gặp chúng tôi. Trong khi quý bà, quý cô trong phái đoàn, vận áo dài truyền thống, nổi bật trong màu áo quốc phục này đang đợi chờ để tiếp kiến Tổng thống mà không được toại nguyện, lại hẹn lần sau và chẳng biết lần sau ấy khi nào mới đến. Thôi thì đành lỗi hẹn do nhân duyên vậy.

Kế tiếp chúng tôi qua phòng hội nghị của Chính phủ, nơi đây là một hội trường khánh tiết, có trang trí một tượng Phật, bốn cây đèn dầu và một chân đèn cao gồm nhiều tim đèn để cho những vị khách quý đến châm đèn cúng Phật, gồm bốn vị lãnh giải thưởng hôm ấy cùng Thủ tướng, Phó thủ tướng và ông Hội trưởng Hội Phật giáo Tích Lan.

Trước khi Thủ tướng đến, đội quân dàn chào với khí giới oai vệ đã túc trực bên ngoài hội trường. Sau khi Thủ tướng vào hội trường rồi, chúng tôi bốn người lên xe đặc biệt và được đưa đi vòng ra phía sau đoàn cung nghinh đại lễ. Sau đó, chúng tôi xuống xe đứng vào vị trí cờ lọng đã có sẵn. Đầu tiên là cờ của Tăng-già do 40 em thiếu nữ cầm, và sau đó là một đoàn vũ công truyền thống, ăn mặc theo lối chư thiên, mang trống, nhạc đến ca múa dâng lên đại lễ. Kế tiếp là một rừng cờ Phật giáo và lại một đoàn vũ công nữa, tấu lên những bản nhạc thật oai hùng. Sau đoàn vũ công là lọng che nhị vị Hòa thượng được trao giải, hai vị Trưởng, Phó Hội Phật giáo Áo tháp tùng theo sau.

Cuối cùng là đội hợp ca của các em Phật tử. Đoàn cung nghinh vào hội trường trong tiếng nhạc lễ cao vút và trang trọng nhất. Sau khi chư Tăng, Ni, Thủ tướng, các vị Bộ trưởng và Phật tử an vị rồi, vị Tổng thư ký của Hội đồng Tăng-già thông qua chương trình và cung thỉnh Hòa thượng Trưởng lão 94 tuổi, đại diện cho Tăng đoàn ngồi vào ghế chứng minh phía trên. Sau đó là phần tuyên dương sự hoằng pháp của nhị vị Hòa thượng và hai vị cư sĩ bằng tiếng Tích Lan.

Kế tiếp, Hòa thượng Thích Minh Tâm được mời lên nhận bằng do Hòa thượng Tăng Thống trao. Sau đó Hòa thượng ngồi vào vị trí chiếc ghế bên cạnh để Thủ tướng D. M. Jayaratne đến trao chiếc quạt truyền thống cũng như đảnh lễ. Kế tiếp, Hòa thượng Thích Như Điển cũng được trao như vậy. Bằng khen tặng do một vị Trưởng lão khác trao và chiếc quạt hoằng pháp do Phó thủ tướng đảng đối lập trao tặng và đảnh lễ. Các Phật tử Việt Nam đại diện trong đoàn đã dâng hoa chúc mừng nhị vị Hòa thượng.

Hai vị chánh phó Hội Phật giáo Áo đã được chư Tăng trao bằng danh dự và quà kỷ niệm, không có chiếc quạt của quốc gia trao tặng.

Kế tiếp, Thượng tọa tiến sĩ Seelawansa đọc một bài diễn văn bằng tiếng Tích Lan và tiếng Anh để vinh danh việc hoằng pháp này. Nội dung của dòng chữ ghi trên tấm bằng danh dự là: Hội đồng Tăng-già Tích Lan tặng giải thưởng này cho… với tước hiệu danh dự là “Người có công mang ánh sáng Phật pháp đến với thế giới”. Còn trên chiếc quạt có ghi dòng chữ Tích Lan và tiếng Anh như là tước hiệu cao cả mà nhiều người trong đoàn nói rằng quạt này giống như chiếc quạt “như trẫm thân lâm” trong “Thoát vòng tục lụy”. Đây cũng là một nhân duyên mà chính tôi chưa bao giờ nghĩ tới.

Kế đó là Thủ tướng phát biểu, Phó thủ tướng, rồi ông Hội trưởng lên phát biểu cảm tưởng. Hòa thượng Thích Minh Tâm tặng quà lưu niệm đến Hội đồng Trưởng lão Tăng-già, Thủ tướng, Phó thủ tướng và vị Hội trưởng cũng như những nhân viên lễ tân. Đồng thời Thượng tọa Tiến sĩ Seelawansa trao tặng tịnh tài đến chư vị Trưởng lão. Sau đó là chụp hình lưu niệm và tôi đã nói đôi lời bằng tiếng Anh để cảm ơn Hội đồng Tăng-già cũng như Chính phủ và nhất là thầy Seelawansa, nói lên tấm chân tình của chúng tôi khi đến đảo quốc này.

Bên chư Tăng có rất nhiều vị trưởng lão, như Ngài A. T. Ariyaratne, Tiến sĩ Phật học và là người sáng lập cũng như là Hội trưởng Hội Sarvodaya Shramadana, vốn là người trực tính, ít liên hệ với chính phủ hiện tại, nhưng vẫn hiện diện trong lễ trao giải thưởng này. Được biết, đây cũng là lễ trao giải đầu tiên tại Tích Lan dành cho người ngoại quốc có công truyền bá Phật pháp trên thế giới.

Buổi tối ngày 8 tháng 7 năm 2011, tại một nhà hàng Pizza Ý ở thành phố Negombo, Thượng tọa Thích Nguyên Lộc, Ni sư Diệu Trạm và các đệ tử của Sư ông Khánh Anh đã tổ chức một bữa tiệc nhỏ để tạ ơn Sư trưởng. Trong chương trình bữa tiệc cũng có ca nhạc, ngâm thơ, phát biểu cảm tưởng và cúng dường tịnh tài, phẩm vật v.v… Bầu không khí thật cảm động, thể hiện tình thầy trò, tử đệ. Đây là một kỷ niệm nho nhỏ để kết thúc một nghi lễ, vốn đã được chuẩn bị trước gần một năm nay.

Sáng sớm ngày 9 tháng 7 năm 2011, những người nhận giải thưởng đã được Phó Thủ tướng đối lập tiếp kiến tại tư dinh và điểm tâm với gia đình thật là thân mật. Trước đó mấy ngày, phái đoàn chúng tôi đã ghé thăm đảnh lễ những Đại Bảo Tháp, Đại Phật tượng, chùa cổ hàng ngàn năm và những chùa cổ xưa trong hang động vùng Kalutara thật là tuyệt vời, không bút mực nào tả xiết.

Dọc đường đi, chúng tôi đã dừng xe để mua chuối, mít, măng cụt, xoài, cóc, ổi, chôm chôm, sầu riêng… Ai nấy đều trố mắt lên khi nhìn thấy những hình ảnh quê hương mình hiện về, đặc biệt là với những người xa quê trên dưới 40 năm chưa một lần trở về như Hòa thượng Thích Minh Tâm và tôi. Đây là những hình ảnh và kỷ niệm tuyệt vời vẫn còn lưu giữ mãi trong tâm khảm chúng tôi.

Trưa ngày 7 tháng 7 năm 2011 phái đoàn gồm 32 người đã đến vùng Wadduwa để đi thăm nhà nuôi trẻ mồ côi Muditha (Muditha Children’s Home). Nhà nuôi trẻ này được thành lập sau trận sóng thần (tsunami) cách đây 5 năm, do thầy Seelawansa sáng lập để nuôi những trẻ em mồ côi cha mẹ sau nạn sóng thần năm ấy. Tiền bạc xây dựng nên cơ sở này là do Hội Phật giáo Áo tài trợ, trong đó cũng có tiền của GHPGVNTN Âu châu, qua chúng tôi, đã gởi tặng khoảng 17 nghìn Euro.

Ngày hôm ấy, đạo hữu Nguyên Trí đại diện cho Sư bà Thích Nữ Diệu Tâm, Trưởng ban Từ thiện Xã hội của Giáo hội và qua Hòa thượng Thích Minh Tâm đã trao tặng 1.000 Euro cho hơn 20 em đang ở đây.

Vào lúc 14 giờ chiều cùng ngày, sau khi cơm nước và nhận quà bánh của phái đoàn, các em đã ca múa tặng phái đoàn. Nhìn sự hồn nhiên của tuổi thơ, ai cũng phải chạnh lòng. Vì mỗi người trong chúng ta sinh ra đời đã có một hoàn cảnh khác nhau, không ai giống ai cả. Ai đó vì thương trẻ thơ như một Phật tử ở Thụy Sĩ đã tặng vào đây 200 franc Thụy Sĩ và nhiều tấm lòng tương ái khác cũng đã thể hiện tại đây để giúp đỡ cho các em, qua sự đóng góp tận tình của mọi người hiện diện.

Chiều hôm ấy, chúng tôi đi vào làng, nơi thầy Seelawansa đã tu học nhiều năm. Nơi đây, vị thầy cũ của thầy Seelawansa, vốn là một học giả tiếng Sankrit cũng đã trú ngụ và Ngài giờ đã ra đi vĩnh viễn, sau bao nhiêu năm tôi chưa trở lại xứ này. Người xưa bây giờ không còn nữa, cho nên những cây mít trong vườn không còn sai quả như ngày xưa khi còn vị Bổn sư của thầy Seelawansa, và đàn cò trắng đã ít bay đậu trên những đọt dừa cao, vì vị Tôn sư đã đi về thế giới tịch diệt rồi. Tuy nhiên, những trái mít ướt, những trái dừa, trái ô ma, trái xoài đã được đoàn hành hương chiếu cố tại chỗ, trông thật là đậm tình quê hương và dân dã. Nhưng phẩm chất từ bi trí tuệ của đạo Phật đã ngự trị nơi đây, nuôi lớn một con người từ ruộng đồng ra đi, để sau ba bốn mươi năm trở lại vườn xưa, là một trạng nguyên không võng lọng vinh quy bái Tổ nhưng là một thực thể biểu hiện của của tính Phật. Vì lẽ, trong mỗi con người đều sẵn có tính Phật, và chính tính Phật này sẽ dưỡng nuôi chúng ta thành Phật, dầu cho là người trí thức hay những kẻ hạ tiện bình dân. Cho nên sau khi đức Phật thành đạo, Ngài đã nói lên câu nói bất hủ tại Bồ-đề Đạo Tràng rằng: “Kỳ lạ thay! Trong mỗi chúng sanh đều có tính Phật.”

Ngày 9 tháng 7 cũng là một ngày đáng ghi nhớ, phái đoàn chúng tôi gồm 32 người cùng với 8 người Áo và thầy trò thầy Seelawansa, tổng cộng là 42 người. Tất cả ngồi trên hai chiếc xe bus cũ của Nhật Bản do hai tài xế trẻ Tích Lan lái. Từ Negombo đến Kandy, cố cung của Tích Lan, khoảng chừng 200 km nhưng đi từ sáng đến tối vẫn chưa đến vì xe bị thủng lốp và còn dừng giữa đường tại Kegalla để đi xem sở thú voi. Khi đến khách sạn Queen tại Kandy cũng đã đến giờ hành lễ Xá-lợi Răng Phật lúc 18 giờ cùng ngày.

Vì đã liên lạc trước và có sự quen biết của thầy Seelawansa nên phái đoàn chúng tôi được hướng dẫn thẳng lên lầu ba, vào tận nơi tháp thờ Xá-lợi Răng Phật để đảnh lễ. Đây là một phước đức lớn, một nhân duyên không phải ai cũng được. Bởi vì có cả hàng ngàn, hàng vạn người, mỗi ngày 3 lần chỉ được hành lễ bên ngoài Bảo tháp thờ Xá-lợi Răng Phật mà thôi.

Trong 32 tướng tốt của đức Phật, có tướng về răng. Ngài có 40 chiếc răng đều nhau, trắng mịn… Ngày nay, trên thế gian này chỉ còn hai chiếc răng Xá-lợi Phật, một được thờ ở chùa Linh Quang, Trung Quốc, và một đang thờ tại cố cung ở Kandy, Tích Lan này. Người ta cung kính chiếc răng của đức Phật như Phật còn tại thế. Tại Tích Lan có hai quốc bảo, đó là Xá-lợi Răng Phật ở Kandy và cây bồ-đề do công chúa Sanghamitta con vua A-dục trồng tại Anuradhapura. Không người Tích Lan nào không biết đến hai quốc bảo này.

Hòa thượng Thích Minh Tâm và phái đoàn rời Kandy vào sáng ngày 10 tháng 7 năm 2011 để trở lại Paris, Pháp quốc. Trong khi đó, phái đoàn của chúng tôi lên xe bus hướng về phía bắc đảo quốc này để đảnh lễ cây bồ-đề thiêng liêng. Trên đường đi, phái đoàn đã ghé vùng Naula để thăm trường học Phật giáo dạy vào cuối tuần và cảnh quan xung quanh chùa. Nơi ấy có những cây sa-kê và những cây mít sai trái. Ai cũng trầm trồ vì đã nặng lòng với cố quốc lâu nay, trong đó có văn hóa ẩm thực.

Khi xe dừng bánh tại Dambulla, cũng là lúc trưa nắng, chúng tôi phải leo núi cũng như ghé thăm viện bảo tàng Phật giáo nằm ngay trong tượng Đại Phật. Đồng thời, để chuẩn bị cho buổi cơm trưa hôm đó, chúng tôi phải dùng thời gian lâu hơn để đi thăm những thạch động tại đây, cốt là để đủ thời gian chuẩn bị gần 40 phần cơm cho cả đoàn.

Trong động có tượng 27 vị Phật quá khứ và hầu như động nào cũng có tượng Phật nhập niết-bàn. Những hang động và những bích họa kỳ vĩ tại Dambulla đã có từ hơn 2000 năm trước. Người xưa không có những phương tiện như ngày nay, nhưng họ có một ý chí thật phi thường nên mới làm nên được đại sự như vậy. Còn người đời nay, phương tiện thật nhiều nhưng ý chí lại kém cỏi. Do vậy, làm việc gì cũng ít thành công, vì tất cả đều quay về “egoism” (tự kỷ cá nhân) thay vì Bồ Tát hạnh, vì người vì đời như các bậc tiền bối đã dày công gây dựng. Do vậy, ở trong hang động này, tôi đã nói cho cả đoàn nghe về lời dạy của Ngài Quy Sơn Linh Hựu thiền sư trong Quy Sơn Cảnh Sách. Ngài so sánh bậc đại nhân giác ngộ như cây tùng, cây bách hiên ngang vươn thẳng lên trời xanh, và khuyên chúng ta nếu không làm được như vậy thì nên nương tựa theo các ngài, cũng như dây leo bám vào cây tùng, khi tùng cao đến đâu thì dây leo cũng có thể leo cao đến đó. Ngài nói nguyên văn như sau: “Chẳng thấy như dây leo kia, nhờ dựa vào thân cây tùng mà lên được đến tầng cao chót vót. Hãy chọn nhân lành cao trổi mà ký thác đời mình, mới có thể rộng làm lợi ích.” Nếu được như vậy, quả là hạnh phúc biết bao.

Sáng ngày 11 tháng 7, đoàn chúng tôi đã lên được tận gốc bồ-đề để đảnh lễ và cúng dường, sau đó xuống tầng hai của tháp để tụng một thời kinh Lăng Nghiêm. Trong tiếng chuông mầu nhiệm, như đâu đây công chúa và hoàng tử vẫn còn đó để ngắm nhìn đoàn người và nghe những âm thanh trầm bổng kỳ lạ của những người đến từ một xứ xa xôi hơn nửa vòng trái đất nhưng vẫn còn nhớ về quê mẹ. Những người Phật tử Việt Nam vẫn không quên nguồn gốc tổ tiên và đạo Phật của mình.

Sau khi đảnh lễ cây bồ-đề thiêng liêng và tụng kinh xong, phái đoàn chúng tôi ghé sang Đại tháp cạnh đó để đi nhiễu tháp một vòng trong 30 phút và đảnh lễ chư Phật, chư Đại Bồ Tát, chư Thánh Hiền Tăng, những người đã có công làm cho Phật giáo hưng thịnh ở một cõi nước xa xôi trong quá trình hành đạo. Nhìn những tảng đá cổ xưa được chạm trổ, hay những viên gạch rêu phong cùng năm tháng, chúng tôi mới biết được kỳ công của những nghệ nhân đời xưa mà đời nay quả thật không phải ai cũng có thể thực hiện được.

Được biết cách đây chừng hai ngày, tại đây có lễ hội dâng hoa, có gần một triệu Phật tử khắp nơi tại Tích Lan về đây dâng hoa cầu nguyện. Nhìn những người hành hương, với dáng người khẳng khiu, nhưng ý chí và tâm nguyện của họ thật là mạnh mẽ, cứng cỏi. Đó chính là tâm nguyện hộ đạo của những người Phật tử này. Để tỏ lòng cung kính trước chùa, tháp và cây bồ-đề, họ bỏ giày dép, mũ nón... từ xa ngoài vườn chùa để đi vào bên trong đảnh lễ, mặc dầu phải đi chân trần trên đất cát chứ không phải nền đúc bằng xi-măng như những nơi khác. Khi họ đảnh lễ chư Tăng, họ ngồi xuống chân cao, chân thấp và cúi rạp mình xuống chạm vào bàn chân, theo nghi lễ như lúc Phật còn tại thế. Ở đây từ Tổng thống, Thủ tướng cho đến quốc dân trăm họ đối với chư Tăng đều như thế, và phong tục này đã có tại nơi đây cả mấy ngàn năm rồi, vẫn còn gìn giữ được thật là đáng trân quý.

Rời Anuradhapura, phái đoàn chúng tôi hướng đến địa phương Polonnaruwa. Nơi đây được công nhận là Di sản văn hóa Thế giới, gồm một quần thể kiến trúc đã được các nhà khảo cổ học phát hiện vào thế kỷ 18-19, trong đó có những bảo tháp hàng ngàn năm tuổi. Có chùa Phật giáo Đại thừa 900 năm tuổi và đặc biệt có tượng đá lộ thiên với hình ảnh đức Phật nhập Niết-bàn, đứng hầu bên cạnh là ngài A-nan hiền hòa với vẻ buồn bã lộ trên nét mặt. Những tượng này hẳn phải mất đến mấy chục năm mới hoàn tất. Quả là một tác phẩm vĩ đại và tuyệt diệu khiến cho bất cứ ai khi đến đây đảnh lễ, chiêm ngưỡng đều có thể thấy được tâm lượng bao la của người tạc tượng thời xa xưa ấy.

Sau đó chúng tôi trở về làng xưa, nơi thầy Seelawansa trưởng thành, trước khi thầy trở thành tăng sĩ Phật giáo Tích Lan. Bữa cơm trưa tại gia đình em gái thầy đã nói lên tất cả những đạo tình, đạo vị ấy. Nào chuối, nào mít, nào dưa hấu, nào khoai mì… Tất cả đều gói trọn trong nghĩa tình thắm thiết để gửi tặng những người con xa xứ.

Sau khi ăn xong, chúng tôi lại còn được hái mít, hái xoài để đem về khách sạn. Quả là một tình cảm quê hương chất phác, dịu hiền, khó tìm được nơi những chốn thị thành, nơi giàu có về vật chất mà tình người như thiếu vắng.

Từ Polonnaruwa đến phi trường quốc tế Colombo chỉ có 215 km mà đoàn chúng tôi phải mất đến 6 tiếng đồng hồ di chuyển. Hai bên đường đi, mọi người đều nhận thấy vùng quê này vẫn còn sản xuất những giống cây nguyên thủy, không lai tạo biến đổi mà cũng chẳng có thuốc làm hại sức khỏe. Nào mít, dưa, chuối, ổi, dừa, cóc, bắp… đều là những cảm tình gợi nhớ khi đoàn người sẽ giã từ nơi đây vào sáng ngày 14 tháng 7 năm 2011 để trở về trụ xứ của mình.

Tôi ghi vội lại cuộc hành trình này với tiêu đề “Đã một lần như thế” tại khách sạn Oasis Beach Resort ở vùng Negombo vào sáng ngày 12 tháng 7 năm 2011, trong bốn tiếng đồng hồ, để ghi lại một chuyện quan trọng trong đời mình và trong cuộc hành trình vốn dài vô tận này, chẳng biết nhân duyên gì ta lại đến, lại đi, lại còn, lại mất… Tất cả cũng chỉ là con số không to tướng để ta quy về một mối. Đó là “Không” và chơn như bản thể mới là tánh chơn thường.

Thích Như Điển

Colombo, 12/07/2011


    « Xem chương trước «      « Sách này có 13 chương »       » Xem chương tiếp theo »
» Tải file Word về máy » - In chương sách này

_______________

TỪ ĐIỂN HỮU ÍCH CHO NGƯỜI HỌC TIẾNG ANH

DO NXB LIÊN PHẬT HỘI PHÁT HÀNH




BẢN BÌA CỨNG (HARDCOVER)
1200 trang - 54.99 USD



BẢN BÌA THƯỜNG (PAPERBACK)
1200 trang - 45.99 USD



BẢN BÌA CỨNG (HARDCOVER)
728 trang - 29.99 USD



BẢN BÌA THƯỜNG (PAPERBACK)
728 trang - 22.99 USD

Mua sách qua Amazon sẽ được gửi đến tận nhà - trên toàn nước Mỹ, Canada, Âu châu và Úc châu.

XEM TRANG GIỚI THIỆU.






DONATION

Quý vị đang truy cập từ IP 3.234.252.109 và chưa ghi danh hoặc đăng nhập trên máy tính này. Nếu là thành viên, quý vị chỉ cần đăng nhập một lần duy nhất trên thiết bị truy cập, bằng email và mật khẩu đã chọn.
Chúng tôi khuyến khích việc ghi danh thành viên ,để thuận tiện trong việc chia sẻ thông tin, chia sẻ kinh nghiệm sống giữa các thành viên, đồng thời quý vị cũng sẽ nhận được sự hỗ trợ kỹ thuật từ Ban Quản Trị trong quá trình sử dụng website này.
Việc ghi danh là hoàn toàn miễn phí và tự nguyện.

Ghi danh hoặc đăng nhập

Thành viên đang online:
Rộng Mở Tâm Hồn Diệu Bảo Rộng Mở Tâm Hồn Phan Huy Triều Rộng Mở Tâm Hồn Phù Duy Học Rộng Mở Tâm Hồn Nam1956 Rộng Mở Tâm Hồn Viên Hiếu Thành Rộng Mở Tâm Hồn Tánh Không 1965 Rộng Mở Tâm Hồn van chương Rộng Mở Tâm Hồn Nguyên Lê Rộng Mở Tâm Hồn Trầm Minh Rộng Mở Tâm Hồn Vạn Phúc Rộng Mở Tâm Hồn ba tau phu Rộng Mở Tâm Hồn Nguyễn Ngọc Định Rộng Mở Tâm Hồn Minhkhang2110 Rộng Mở Tâm Hồn tony coi Rộng Mở Tâm Hồn Ngọc Châu Rộng Mở Tâm Hồn Thích Thện Tâm Rộng Mở Tâm Hồn Huệ Trí 1975 Rộng Mở Tâm Hồn nmtst94 Rộng Mở Tâm Hồn Pascal Bui Rộng Mở Tâm Hồn Bá láp Rộng Mở Tâm Hồn Trương Quang Quý Rộng Mở Tâm Hồn phatthanhle Rộng Mở Tâm Hồn Thích Nguyên Mạnh Rộng Mở Tâm Hồn Phạm thị thu hương Rộng Mở Tâm Hồn Trần Thị Huyền Rộng Mở Tâm Hồn Lê thị Ngọc Phượng Rộng Mở Tâm Hồn Lê Duy Hùng Rộng Mở Tâm Hồn Tri Huynh Rộng Mở Tâm Hồn nguyễn thu hương Rộng Mở Tâm Hồn Vô Thường Violet Rộng Mở Tâm Hồn Nguyễn Ngọc Luật Rộng Mở Tâm Hồn Nguyen thi chau xong Rộng Mở Tâm Hồn HUYNH KIM BINH Rộng Mở Tâm Hồn Van Tran Thu Huyen Rộng Mở Tâm Hồn hehehe88 Rộng Mở Tâm Hồn nguyễn thanh bình Rộng Mở Tâm Hồn NGUYỄN TRỌNG TÀI Rộng Mở Tâm Hồn hoangpq Rộng Mở Tâm Hồn Long Việt Rộng Mở Tâm Hồn The ending ... ...

Việt Nam (1.114 lượt xem) - Trung Hoa (58 lượt xem) - Nhật Bản (24 lượt xem) - Senegal (9 lượt xem) - Ma-cao (8 lượt xem) - French Southern Territories (5 lượt xem) - Australia (5 lượt xem) - Hoa Kỳ (3 lượt xem) - Anh quốc (2 lượt xem) - ... ...