Có những người không nói ra phù hợp với những gì họ nghĩ và không làm theo như những gì họ nói. Vì thế, họ khiến cho người khác phải nói những lời không nên nói và phải làm những điều không nên làm với họ. (There are people who don't say according to what they thought and don't do according to what they say. Beccause of that, they make others have to say what should not be said and do what should not be done to them.)Rộng Mở Tâm Hồn
Cuộc sống xem như chấm dứt vào ngày mà chúng ta bắt đầu im lặng trước những điều đáng nói. (Our lives begin to end the day we become silent about things that matter. )Martin Luther King Jr.
Điều bất hạnh nhất đối với một con người không phải là khi không có trong tay tiền bạc, của cải, mà chính là khi cảm thấy mình không có ai để yêu thương.Tủ sách Rộng Mở Tâm Hồn
Khi ăn uống nên xem như dùng thuốc để trị bệnh, dù ngon dù dở cũng chỉ dùng đúng mức, đưa vào thân thể chỉ để khỏi đói khát mà thôi.Kinh Lời dạy cuối cùng
Nếu bạn nghĩ mình làm được, bạn sẽ làm được. Nhưng nếu bạn nghĩ mình không làm được thì điều đó cũng sẽ trở thành sự thật. (If you think you can, you can. And if you think you can't, you're right.)Mary Kay Ash
Sự ngu ngốc có nghĩa là luôn lặp lại những việc làm như cũ nhưng lại chờ đợi những kết quả khác hơn. (Insanity: doing the same thing over and over again and expecting different results.)Albert Einstein
Người vấp ngã mà không cố đứng lên thì chỉ có thể chờ đợi một kết quả duy nhất là bị giẫm đạp.Sưu tầm
Đừng than khóc khi sự việc kết thúc, hãy mỉm cười vì sự việc đã xảy ra. (Don’t cry because it’s over, smile because it happened. )Dr. Seuss
Cuộc sống không phải là vấn đề bất ổn cần giải quyết, mà là một thực tiễn để trải nghiệm. (Life is not a problem to be solved, but a reality to be experienced.)Soren Kierkegaard
Không có ai là vô dụng trong thế giới này khi làm nhẹ bớt đi gánh nặng của người khác. (No one is useless in this world who lightens the burdens of another. )Charles Dickens

Trang chủ »» Danh mục »» TỦ SÁCH RỘNG MỞ TÂM HỒN »» Bài viết, tiểu luận, truyện ngắn »» Quả Báo Do Không Hiểu Rõ Phật Trí »»

Bài viết, tiểu luận, truyện ngắn
»» Quả Báo Do Không Hiểu Rõ Phật Trí

(Lượt xem: 736)
Xem trong Thư phòng    Xem định dạng khác    Xem Mục lục 

       

Bài viết, tiểu luận, truyện ngắn - Quả Báo Do Không Hiểu Rõ Phật Trí

Font chữ:

Pháp môn Niệm Phật vãng sanh được kiến lập bởi Phật trí của A Di Đà Như Lai mà chúng sanh lại nghi ngờ trí ấy, nên đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật bảo là “không hiểu rõ Phật trí.” “Không hiểu rõ Phật trí” là chẳng thể tin trọn vẹn vào Nhất Thiết Chủng Trí của Phật. Do chẳng hiểu nổi, nên khởi tâm nghi ngờ tánh đức bất khả tư nghì của Phật trí, chẳng ngộ được vì sao đức Di Đà Như Lai là vĩ đại nhất và được chư Phật mười phương xưng tụng là “Quang Trung Cực Tôn, Phật Trung Chi Vương.”

Phật trí là tổng thể của các trí, bao gồm bốn biệt trí, gộp thành “Ngũ Trí.” Theo kinh Vô Lượng Thọ, “không hiểu rõ Phật trí” là chẳng hiểu rõ bốn biệt trí dưới đây:

• “Trí Không Nghĩ Bàn” còn gọi là “Bất Tư Nghị Trí,” là Phật trí uyên thâm, sâu rộng chẳng thể nghĩ bàn của Phật. Niệm Phật vãng sanh được kiến lập bởi trí này mà chúng sanh lại nghi ngờ trí ấy, nên kinh bảo là “chẳng hiểu rõ Trí Không Nghĩ Bàn.”

“Trí Không Nghĩ Bàn” chính là Thành Sở Tác Trí. Trí này có thể làm được những việc chẳng thể nghĩ bàn; chẳng hạn như là trong một niệm xưng danh hiệu Phật mà có thể vĩnh viễn diệt được trọng tội trong nhiều kiếp. Công đức của mười niệm, phát sanh ra quả báo thù thắng vượt ngoài tam giới. Người niệm Phật do chẳng tin vào “Trí Không Nghĩ Bàn” nên nghi nếu chỉ niệm A Di Ðà Phật chưa chắc đã được vãng sanh Cực Lạc, họ chẳng biết rằng “Trí Không Nghĩ Bàn” có đại oai lực, chẳng thể suy lường được nổi.

Hết thảy muôn pháp, không pháp nào chẳng phải là tự lực, tha lực, tự nhiếp, tha nhiếp, thiên biến vạn hóa vô lượng vô biên. Chúng ta không thể dùng cái tình thức còn ngăn ngại của phàm phu mà ngờ vực diệu pháp vô ngại của đức Di Đà Như Lai.

• “Trí Không Xưng Lường” còn gọi là “Bất Khả Xưng Trí,” là trí huệ của Phật nhiều đến vô lượng chẳng thể nói kể cho hết được. Niệm Phật vãng sanh là do trí này thành tựu mà lại nghi trí ấy, nên kinh gọi là “chẳng hiểu rõ Trí Không Xưng Lường.”

“Trí Không Xưng Lường” chính là Diệu Quán Sát Trí. Trí này quán sát vô lượng cảnh giới, chẳng thể nói nổi; nghĩa là hết thảy pháp như huyễn, như mộng, chẳng phải có, chẳng phải không, lìa ngôn ngữ, dứt bặt suy nghĩ, chẳng thể dùng ngôn ngữ để suy lường, diễn tả nổi.

Ngài Ðàm Loan nói: “Bất Khả Xưng Trí là tin Phật trí chẳng thể diễn bày, mô tả nổi, chẳng thể đối đãi. Vì sao nói thế? Pháp nếu là có thì ắt phải có cái trí biết có. Pháp nếu là không thì ắt phải có cái trí biết không. Các pháp rời ngoài có không mà Phật thấu hiểu sâu xa các pháp, nên trí ngài vượt khỏi mọi đối đãi. Dùng cái biết để hiểu Phật thì chẳng gọi là biết Phật. Dùng cái chẳng biết để hiểu Phật thì cũng chẳng gọi là biết Phật. Dùng cái bất tri, phi bất tri để hiểu Phật thì cũng chẳng phải là biết Phật. Dùng cái phi phi tri, phi phi bất tri để hiểu Phật thì cũng chẳng phải là biết Phật. Phật trí rời ngoài cả bốn câu ấy.” Chúng sanh do chẳng tin vào “Trí Không Xưng Lường” nên chẳng hiểu được rằng thể tánh của Phật trí là tuyệt dứt mọi đối đãi, lìa mọi lỗi lầm, tuyệt mọi sai trái. Do trí ấy chẳng thể diễn tả nổi, nên công đức niệm Phật cũng chẳng thể diễn tả nổi.

• “Trí Rộng Đại Thừa” còn gọi là “Đại Thừa Quảng Trí,” là trí biết đến cùng tột các pháp môn. Niệm Phật vãng sanh là do trí này cảm thành mà lại nghi ngờ trí ấy, nên kinh gọi là “chẳng hiểu rõ Trí Rộng Đại Thừa.”

“Trí Rộng Đại Thừa” chính là Bình Đẳng Tánh Trí. Trí này dung hội vô ngã nên có thể độ rộng khắp chúng sanh, chẳng giống với Tiểu Thừa chỉ có thể tự độ, chẳng thể độ tha. Do vô ngã, nên không có pháp nào là pháp không bình đẳng có thể dùng để nhiếp thọ chúng sanh. Phật dùng trí lực đồng thể này độ khắp vô biên hữu tình, khiến chúng sanh đều chứng vô thượng Bồ Ðề, cho nên gọi là “Trí Rộng Đại Thừa.”

Chúng sanh do chẳng hiểu rõ “Trí Rộng Đại Thừa,” nên nghi Phật chẳng thể thật sự độ hết thảy chúng sanh, lại ngờ hết thảy chúng sanh niệm Phật chẳng phải đều được vãng sanh Tịnh Ðộ. Bởi thế, đối với A Di Ðà Phật bèn sanh ý tưởng suy lường. Ðể đối trị mối nghi này, Phật mới nói đến “Trí Rộng Đại Thừa.” Trí này không pháp gì chẳng biết, không phiền não nó chẳng đoạn được, không điều thiện nào nó chẳng trọn vẹn được, không chúng sanh nào trí này chẳng độ được. Tóm lại, Trí này có thể đưa hết thảy chúng sanh đều vào vô dư Niết Bàn, nên gọi là “Ðại Thừa.” Trí ấy độ thoát vô hạn vô ngằn, nên gọi là “Trí Rộng.” Trí ấy lại biết rõ cùng tột các pháp môn, nên gọi là “Trí Rộng Đại Thừa.” Vì thế, trí ấy có thể khế hợp rộng rãi mọi căn cơ, đều độ thoát tất cả. Như trong phẩm Phổ Môn của kinh Pháp Hoa có nói, ai đáng được thân Phật thì dùng thân Phật để thuyết pháp, ai đáng được thân quỷ thì hiện thân quỷ để thuyết pháp; đấy đã nêu rõ tánh vô ngã của Trí Rộng Đại Thừa chính là Bình Đẳng Tánh Trí.

Như Lai đại bi đại trí, đối với những kẻ hữu duyên thì không một ai mà Ngài chẳng độ thoát cho được nhập Niết Bàn. Ngài khai diễn diệu nghĩa “tâm này làm Phật, tâm này là Phật,” khiến các hữu tình do niệm Phật chứng nhập vô niệm, do vãng sanh chứng được vô sanh. Bởi thế, có thể khiến cho chúng sanh niệm Phật đều sanh Tịnh Ðộ.

Hơn nữa, thế giới chẳng phải là hữu biên, chẳng phải là vô biên, cũng tuyệt hẳn tứ cú (không, có, chẳng không, chẳng có). Phật làm cho chúng sanh lìa được tứ cú, chứng nhập Trung Đạo Thật Tướng nên gọi là “độ,” nhưng thật ra Ngài chẳng độ mà cũng chẳng phải là chẳng độ, chẳng phải tận mà cũng chẳng phải là chẳng tận, nên có thể khế hợp rộng rãi và độ thoát mọi căn cơ.

• “Trí Vô Đẳng Vô Luân Thù Thắng Tối Thượng” còn gọi là “Vô Đẳng Vô Luân Tối Thượng Thắng Trí,” là trí ở địa vị cao trỗi hơn hết. Niệm Phật vãng sanh là do trí này phát khởi mà lại nghi trí ấy, nên kinh bảo là “chẳng hiểu rõ Trí Vô Đẳng Vô Luân Thù Thắng Tối Thượng.”

“Trí Vô Đẳng Vô Luân Thù Thắng Tối Thượng” chính là Như Lai Ðại Viên Minh Kính Trí. Khi Thỉ Giác chuyển thành Bổn Thức thì mới quy về nguồn tâm. Lúc ấy, với hết thảy cảnh, không cảnh nào chẳng thấu suốt, chiếu soi trọn vẹn. Vì lẽ đó, Trí này được gọi là Ðại Viên Minh Kính Trí. Lại nữa, Trí này được gọi là “Trí Vô Đẳng Vô Luân Thù Thắng Tối Thượng” bởi vì trong một trí này lại bao trọn cả năm điều thù thắng dưới đây:

a. Ðiều thù thắng thứ nhất: Ðại Viên Minh Kính Trí chính là Pháp Thân Phật. Nhị thừa tuy chứng đắc giải thoát thân, nhưng do chưa được Trí này, nên chẳng chứng được Pháp Thân; do vậy, Trí này được gọi là “vô đẳng” (không ai bằng).

b. Ðiều thù thắng thứ hai: Ba trí trước kia, Bồ tát cũng dần dần sẽ đạt được; nhưng Ðại Viên Minh Kính Trí chỉ Phật mới đốn chứng, chứ không ai khác chứng nổi, nên gọi là “vô luân” (không ai sánh nổi).

c. Ðiều thù thắng thứ ba: Ðại Viên Minh Kính Trí hơn cả “Trí Không Nghĩ Bàn” nên gọi là “tối.”

d. Ðiều thù thắng thứ tư: Ðại Viên Minh Kính Trí vượt xa “Trí Không Xưng Lường” nên gọi là “thượng.”

e. Ðiều thù thắng thứ năm: Ðại Viên Minh Kính Trí rộng hơn “Trí Rộng Đại Thừa” nên là “thắng.”

Đối với Phật trí như thế chỉ có thể ngưỡng mộ, kính tin, chứ chẳng thể so lường, nên gọi là “chẳng hiểu rõ Trí Vô Đẳng Vô Luân Thù Thắng Tối Thượng.” Chúng sanh do chẳng hiểu rõ “Trí Vô Đẳng Vô Luân Thù Thắng Tối Thượng,” nghi ngờ Phật chẳng đắc Nhất Thiết Chủng Trí. Bởi nghi như thế, nên đối với pháp môn Niệm Phật chẳng thể chánh tín; do đó phải bị thai sanh.

Hết thảy cảnh giới vốn chỉ là nhất tâm, lìa khỏi tưởng niệm. Do chúng sanh vọng tưởng, thấy cảnh giới nên tâm có phân chia. Do vọng khởi tưởng niệm, chẳng xứng hợp với pháp tánh nên chẳng thể hiểu rạch ròi. Chư Phật Như Lai lìa khỏi các tướng thấy nên không gì là chẳng hiểu trọn vẹn, vì sao? Vì tâm chân thật, không dính vào cảnh giới tướng, chính là tánh của chư pháp. Tự thể soi chiếu, hiểu rõ hết thảy vọng pháp, có đại trí dụng, vô lượng phương tiện, tùy theo các chúng sanh hiểu được pháp nào thì Phật sẽ khai thị các thứ pháp nghĩa đó, nên gọi là “Nhất Thiết Chủng Trí.” Ðây chính là “Trí Vô Đẳng Vô Luân Thù Thắng Tối Thượng.”

Để đối trị mối nghi “Trí Vô Đẳng Vô Luân Thù Thắng Tối Thượng” của Phật, chúng ta có thể hiểu “do không có cái bị thấy nên không gì là chẳng thấy.” Nếu như tin hiểu được các trí của Như Lai thì là bậc thượng căn lợi trí; còn nếu chẳng tin hiểu nổi Phật trí thì cứ giữ lòng rỗng rang, khiêm nhường, tin tưởng, cung kính, ngưỡng mộ các trí ấy thì cũng được vãng sanh, chẳng bị đọa vào nghi thành; đấy gọi là “hư tâm ngưỡng tín.”

Trong kinh Vô Lượng Thọ, đức Thế Tôn giảng, nếu có chúng sanh chẳng kính tin nổi Phật trí nhưng vẫn tin vào tội phước, nhân quả, thường tu lễ Phật, niệm Phật cầu sanh Tịnh Ðộ. Người như vậy tin phước chẳng tin trí, tin Sự nhưng lại mê nơi Lý, nhưng do lấy công phu niệm Phật làm căn bản của các điều thiện mà tu tập, nên cũng được vãng sanh, nhưng bị đọa vào biên địa nghi thành; tức là họ vẫn hóa sanh trong hoa sen nơi ao thất bảo, nhưng trong suốt năm trăm năm hoa sen chưa nở, nên chẳng được thấy Phật, nghe pháp, dạo khắp mười phương cúng dường chư Phật, tu tập các pháp công đức lớn v.v... nên lấy đó làm khổ, chẳng sanh lòng vui thích. Trong tác phẩm Tông Yếu, ngài Nguyên Hiểu viết: “Nếu người chẳng đoạn nổi bốn mối nghi đó thì dẫu sanh vào nước kia, vẫn ở biên địa. Nếu như có kẻ dẫu chẳng thể hiểu nổi cảnh giới của bốn trí vừa nói trên đây, nhưng tự khiêm, tâm nhãn chưa mở nhưng ngưỡng mộ Như Lai, một bề tin phục thì những người như vậy sẽ tùy theo hạnh phẩm vãng sanh về cõi ấy, chẳng lạc vào biên địa. Sanh vào biên địa là một loại riêng chẳng thuộc vào chín phẩm. Vì thế chẳng nên vọng sanh nghi hoặc.”

“Biên Ðịa” và “Thai Sanh” là đồng thể, nhưng khác tên. Tên gọi là “Biên Ðịa,” ý nói, người sanh vào cõi này ở trong hoa sen chưa nở, suốt năm trăm năm chẳng được nghe đến Tam Bảo, giống như cái nạn sanh ở tuốt ngoài bìa biên giới của cõi Cực Lạc. “Thai Sanh” là ví như người sanh trong thai, lúc sơ sanh nhân pháp chưa thành. Chữ “biên” chỉ cho nạn, chữ “thai” chỉ sự tối tăm. Hai danh từ này đều là thí dụ, mượn tình huống nơi đây để ví cho tình trạng nơi kia, chứ chẳng phải là biên địa trong tám nạn, cũng chẳng phải là kiểu thai sanh bằng thai bào. Do đâu mà chúng ta biết thế? Bởi vì cõi nước An Lạc thuần một bề là hóa sanh, cho nên chẳng thật có thai sanh. Do năm trăm năm sau, lại được thấy nghe Tam Bảo nên chẳng phải là nạn biên địa trong tám nạn. Lại nữa, “nghi thành” là nếu ai trong lòng nghi ngờ, niệm A Di Ðà Phật thì sẽ sanh trong cung điện bảy báu nơi biên địa cõi Cực Lạc, trong năm trăm năm chẳng được nghe đến danh hiệu Tam Bảo. Nhưng nếu trong lòng dứt tận hồ nghi thì hoa sen liền nở, cũng được thấy Phật, nghe pháp, dạo khắp cúng dường chư Phật và tu tập các công đức v.v...

Kinh Thủ Hộ Quốc Giới Chúa dạy: “Nếu người lúc mạng chung, biết trước thời khắc, chánh niệm phân minh, tắm gội, mặc áo, thanh thản mà đi, quang minh chiếu thân, thấy tướng hảo của Phật, các điều lành cùng hiện thì biết chắc là người ấy quyết định vãng sanh Tịnh Ðộ. Nếu người niệm Phật, trì giới, tâm không tinh tấn thì lúc mạng chung cũng không có tướng lành mà cũng không có tướng ác. Ðịa phủ chẳng thâu, An Dưỡng chẳng nhiếp như mơ ngủ mà đi. Kẻ ấy nghi tình chưa đoạn nên sanh vào nghi thành. Hưởng vui trong năm trăm năm, lại tu tín nguyện mới được về Tịnh Ðộ.” Rõ ràng là Tín lẫn Nguyện chính là điều căn bản để vãng sanh gặp Phật!

Ngoài ra lại còn có Giải Mạn Quốc, hay còn gọi là Giải Mạn Giới. Cõi này nằm giữa cõi Sa Bà và Cực Lạc. Sanh vào nước này thì đắm nhiễm vào sự khoái lạc trong đó, nên lại khởi lên tâm kiêu mạn, giải đãi, chẳng chịu tấn tu để sanh lên Cực Lạc, nên gọi là Giải Mạn quốc. Kinh Bồ tát Xử Thai chép: “Ở phương Tây, cách cõi Diêm Phù Ðề này mười hai ức na do tha cõi, có cõi Giải Mạn. Cõi nước ấy khoái lạc… Chúng sanh phát ý trước sau muốn sanh về cõi nước Phật A Di Ðà, nhưng đều đắm nhiễm sâu nặng cõi nước Giải Mạn, chẳng thể tiến lên sanh về cõi Phật A Di Ðà. Trong ức ngàn vạn chúng sanh [nơi ấy] mới có một người sanh nổi về cõi Phật A Di Ðà. Vì sao vậy? Ðều vì lười biếng, kiêu mạn, chấp trước, tâm chẳng kiên cố.” Cứ theo ý kinh, ta thấy cõi Giải Mạn Quốc cũng thuộc về biên địa, nghi thành.

    « Xem chương trước «      « Sách này có 855 chương »       » Xem chương tiếp theo »
» Tải file Word về máy » - In chương sách này

Quý vị đang truy cập từ IP 18.208.159.25 và chưa ghi danh hoặc đăng nhập trên máy tính này. Nếu là thành viên, quý vị chỉ cần đăng nhập một lần duy nhất trên thiết bị truy cập, bằng email và mật khẩu đã chọn.
Chúng tôi khuyến khích việc ghi danh thành viên ,để thuận tiện trong việc chia sẻ thông tin, chia sẻ kinh nghiệm sống giữa các thành viên, đồng thời quý vị cũng sẽ nhận được sự hỗ trợ kỹ thuật từ Ban Quản Trị trong quá trình sử dụng website này.
Việc ghi danh là hoàn toàn miễn phí và tự nguyện.

Ghi danh hoặc đăng nhập

Thành viên đang online:
Rộng Mở Tâm Hồn NGUYỄN TRỌNG TÀI Rộng Mở Tâm Hồn caokiem Rộng Mở Tâm Hồn Phạm Thiên Rộng Mở Tâm Hồn Huỳnh Long Rộng Mở Tâm Hồn Phạm Thị kiều Nhi Rộng Mở Tâm Hồn TíHiệp Rộng Mở Tâm Hồn Phan thi ngoc huyen Rộng Mở Tâm Hồn Thinley Rộng Mở Tâm Hồn Quang Rộng Mở Tâm Hồn tritam Rộng Mở Tâm Hồn Dac Rộng Mở Tâm Hồn thucdoan Rộng Mở Tâm Hồn Xuân Thôn Rộng Mở Tâm Hồn khô mộc Rộng Mở Tâm Hồn hoangquycong Rộng Mở Tâm Hồn Tùongphuocho Rộng Mở Tâm Hồn Xuân Nguyễn Rộng Mở Tâm Hồn Thúy Diệp Rộng Mở Tâm Hồn Nguyên Độ Rộng Mở Tâm Hồn Hoang_Khanh Rộng Mở Tâm Hồn Hau Giang Rộng Mở Tâm Hồn Tinh An Rộng Mở Tâm Hồn Trang306 Rộng Mở Tâm Hồn MinhTrung2019 Rộng Mở Tâm Hồn Lam Viên Quang Mai Rộng Mở Tâm Hồn Minh Ngọc Nguyễn Rộng Mở Tâm Hồn Trí Thiện Rộng Mở Tâm Hồn Trí Tài Rộng Mở Tâm Hồn Đỗ Đăng Khoa Rộng Mở Tâm Hồn Quang Thanh LY Rộng Mở Tâm Hồn Nguyên Hiền Rộng Mở Tâm Hồn van chương Rộng Mở Tâm Hồn Nguyễn Thu Oanh Rộng Mở Tâm Hồn Trúc Ngân Rộng Mở Tâm Hồn Chantha Rộng Mở Tâm Hồn Tĩnh Tâm Vô Niệm Rộng Mở Tâm Hồn Diệu Tâm Rộng Mở Tâm Hồn thuhienmiku372004 Rộng Mở Tâm Hồn Nguyễn Tiến Rộng Mở Tâm Hồn Ngân Lai ... ...

Việt Nam (5.228 lượt xem) - Hoa Kỳ (719 lượt xem) - Australia (73 lượt xem) - Đức quốc (34 lượt xem) - Central African Republic (29 lượt xem) - Pháp quốc (23 lượt xem) - Palau (14 lượt xem) - Ấn Độ (6 lượt xem) - Nhật Bản (4 lượt xem) - Thái Lan (3 lượt xem) - Nga (2 lượt xem) - Greece (1 lượt xem) - ... ...