Dầu nói ra ngàn câu nhưng không lợi ích gì, tốt hơn nói một câu có nghĩa, nghe xong tâm ý được an tịnh vui thích.Kinh Pháp cú (Kệ số 101)
Sự kiên trì là bí quyết của mọi chiến thắng. (Perseverance, secret of all triumphs.)Victor Hugo
Phán đoán chính xác có được từ kinh nghiệm, nhưng kinh nghiệm thường có được từ phán đoán sai lầm. (Good judgment comes from experience, and often experience comes from bad judgment. )Rita Mae Brown
Chưa từng có ai trở nên nghèo khó vì cho đi những gì mình có. (No-one has ever become poor by giving.)Anne Frank
Sự ngu ngốc có nghĩa là luôn lặp lại những việc làm như cũ nhưng lại chờ đợi những kết quả khác hơn. (Insanity: doing the same thing over and over again and expecting different results.)Albert Einstein
Đừng bận tâm về những thất bại, hãy bận tâm đến những cơ hội bạn bỏ lỡ khi thậm chí còn chưa hề thử qua. (Don’t worry about failures, worry about the chances you miss when you don’t even try. )Jack Canfield
Không thể dùng vũ lực để duy trì hòa bình, chỉ có thể đạt đến hòa bình bằng vào sự hiểu biết. (Peace cannot be kept by force; it can only be achieved by understanding.)Albert Einstein
Những người hay khuyên dạy, ngăn người khác làm ác, được người hiền kính yêu, bị kẻ ác không thích.Kinh Pháp cú (Kệ số 77)
Ngay cả khi ta không tin có thế giới nào khác, không có sự tưởng thưởng hay trừng phạt trong tương lai đối với những hành động tốt hoặc xấu, ta vẫn có thể sống hạnh phúc bằng cách không để mình rơi vào sự thù hận, ác ý và lo lắng. (Even if (one believes) there is no other world, no future reward for good actions or punishment for evil ones, still in this very life one can live happily, by keeping oneself free from hatred, ill will, and anxiety.)Lời Phật dạy (Kinh Kesamutti)
Yếu tố của thành công là cho dù đi từ thất bại này sang thất bại khác vẫn không đánh mất sự nhiệt tình. (Success consists of going from failure to failure without loss of enthusiasm.)Winston Churchill

Trang chủ »» Danh mục »» TỦ SÁCH RỘNG MỞ TÂM HỒN »» Tu học Phật pháp »» Ngũ trí đối trị ngũ uẩn »»

Tu học Phật pháp
»» Ngũ trí đối trị ngũ uẩn

(Lượt xem: 177)
Xem trong Thư phòng    Xem định dạng khác    Xem Mục lục 

       

Tu học Phật pháp - Ngũ trí đối trị ngũ  uẩn

Font chữ:

Pháp thân của Như Lai tuy là thường trụ vô hình vô tướng, nhưng lại hiện ra thân tướng oai mãnh có sức vững chắc, bất hoại để giáo hóa và điều phục chúng sanh. Đức Như Lai thân lực oai mãnh vô biên cũng giống như tâm lực của Ngài vậy; thân ấy được gọi là thân Kim Cang. Bởi do chư Phật Thế Tôn lúc còn tu nhân địa, siêng năng tu tập các thiện pháp một cách vững chắc bất động, thành tựu vô lượng vô biên thiện căn, nên chứng được thân cứng chắc vô cùng như kim cang, chẳng thể bị phá hoại được. Vì vậy, A Di Đà Phật phát lời nguyện rằng, hễ ai được vãng sanh đều được Kim Cang Na-La-Diên thân có sức vững chắc giống hệt như Đức Phật. Na-La-Diên là tiếng Phạn, dịch nghĩa là Phạm Thiên Vương hay lực sĩ ở các cõi trời. Phật nguyện chúng sanh trong nước của Ngài cũng có được ba thân nghiệp trang nghiêm giống hệt như Ngài, đó là: có thân cứng chắc như kim cang, có sức mạnh mẽ như Na-La-Diên và có thân tướng đoan chánh, hùng mạnh và thù thắng như lực sĩ ở các cõi trời.

Kim cang là loại vật chất quý báu, hiếm có trong đời. Tuy nó sanh ra từ vàng, có màu vàng nhạt, nhưng nó rất cứng rắn, bền bỉ và sắc bén nhất trong các kim loại, có thể cắt đứt cả ngọc. Giống như đá kim cương, kim cang có độ cứng rất cao nên dù bị nung nóng trăm lần cũng không bị tiêu hủy. Kim Cang Xử là binh khí ở Ấn Ðộ thời xưa, Mật tông dùng nó để biểu thị trí tuệ cứng chắc, sắc bén. Các kinh thường ví kim cang cho trí ấn của Như Lai. Hình tượng Bồ-tát Phổ Hiền tay cầm Kim Cang Xử, biểu thị sự phát khởi chánh trí cứng chắc và sắc bén giống như kim cang, có thể đập nát vô minh phiền não và tà kiến cho chúng sanh. Mật giáo mô tả Ngài Phổ Hiền Đại sĩ tay cầm Kim Cang Xử để biểu thị cho chánh trí cứng sắc giống như kim cang, có thể đoạn trừ được tất cả các pháp chướng ngã hay vọng tưởng vi tế. Vì Kim Cang Xử là đại biểu cho chánh trí do ngũ trí hợp thành nên Ngài Phổ Hiền còn có tên là Kim Cang Thủ. Dựa trên ý nghĩa này, các vị tu sĩ Mật tông lúc tụng chân ngôn (thần chú), trên tay thường cầm Kim Cang Xử múa trông rất đẹp mắt để biểu hiện chánh trí của Như Lai biến hóa khôn lường có thể cứu khổ, ban vui cho chúng sanh.

Ngũ trí là năm loại trí được trình bày theo Mật giáo. Năm trí này miêu tả tất cả những khía cạnh tuyệt đối của Chân Như mà con người có thể thực hiện được khi đã chuyển hoá thân tâm của mình. Chuyển hóa thân tâm cũng chính là chuyển hóa ngũ uẩn, bởi vì thân tâm chính là ngũ uẩn. Năm uẩn bao gồm: sắc, thọ, tưởng, hành, thức là năm đầu mối gây ra năm căn bản phiền não: tham, sân, si, kiêu mạn và ganh ghét. Chúng sanh có năm căn bản phiền não thì Phật, Bồ-tát cũng có năm trí để đối trị năm uẩn sanh ra năm căn bản phiền não. Năm trí ấy là: Pháp Giới trí, Đại Viên Minh Cảnh trí, Bình Đẳng Tánh trí, Diệu Quán Sát trí và Thành Sở Tác trí:

1. Pháp Giới trí là trí siêu việt tột cùng, rõ biết pháp giới tính, tức là hiểu rõ tính chất chân thật của vũ trụ nhân sanh. Pháp Giới trí dùng để đối trị “Sắc uẩn,” sanh ra tâm trạng vô minh mà tạo ra ba nghiệp nơi thân, khẩu và ý.

2. Bình Đẳng Tánh trí giúp con người thấy rõ sự bình đẳng giữa mình và hết thảy hữu tình và vô tình chúng sanh, và sự bình đẳng của hết thảy các pháp thế gian và xuất thế gian. Tinh thần từ bi của đạo Phật xuất phát từ trí này, chứ chẳng phải từ ý nghĩ “tội nghiệp, đáng thương” của một người trên cơ nhìn xuống, thương hại cho kẻ dưới cơ. Người Phật tử phát triển Bồ-đề tâm và lòng từ bi bởi vì họ đã nhận ra chính mình cũng đã hoặc đang nằm trong tất cả hoàn cảnh của hết thảy chúng sanh. Bình Đẳng Tánh trí dùng để đối trị “Thọ uẩn,” sanh ra tâm trạng kiêu mạn, mà tạo ra ba nghiệp nơi thân, khẩu và ý.

3. Diệu Quán Sát trí giúp con người biến chuyển khả năng phân biệt, đố kỵ, thị phi bằng cách chuyển đổi trí thức bình thường thành trí huệ siêu việt, biết tuỳ cơ ứng biến, làm việc đúng thời điểm và địa điểm, không cần phan duyên, không cần dụng công nên thường luôn khế hợp với Chân như. Diệu Quán Sát trí dùng để đối trị “Tưởng uẩn,” sanh ra tâm trạng tham dục mà tạo ra ba nghiệp nơi thân, khẩu và ý.

4. Thành Sở Tác trí giúp con người hoàn thành tất cả mọi việc mà không tạo nghiệp, đó là hành động vô vi xuất phát từ một tâm đã chứng ngộ được vô ngã của chính bản thân mình trong các pháp hữu vi. Nói cách khác, người có trí tuệ này thì tâm luôn an trú trong vô vi, tức là tuy họ đã xả ly hết thảy các pháp hữu vi, nhưng lại chẳng chấp vào pháp vô vi mà bác bỏ các pháp hữu vi, nhằm làm phương tiện giáo hóa và cứu độ chúng sanh chưa giác ngộ Thật tướng của các pháp vốn là vô sở hữu. Thành Sở Tác trí dùng để đối trị “Hành uẩn,” sanh ra tâm trạng ganh ghét mà tạo ra ba nghiệp nơi thân, khẩu và ý.

5. Đại Viên Minh Cảnh trí là trí giúp người ta nhìn vạn vật với một tâm thức vô ngã. Do thấy vạn sự vật đều là vô ngã, nên không sanh tâm muốn chiếm đoạt, không còn phân biệt đúng sai, phải trái, thiện ác, chánh tà nữa; nhờ đó mà không còn nhận lầm thể tánh của vạn vật bởi sắc thể riêng của nó. Phật giáo ví trí tuệ thông suốt, thấu đáo không ngằn mé này giống như tấm gương lớn sáng sạch. Dù cho một hạt bụi nhỏ, gương cũng không bỏ qua nên gọi là “sáng.” Nhưng nếu hạt bụi này bay đi thì gương chẳng lưu lại một dấu vết gì cả nên gọi là “sạch.” Đại Viên Minh Cảnh trí dùng để đối trị “Thức uẩn,” sanh ra tâm trạng sân giận mà tạo ra ba nghiệp nơi thân, khẩu và ý.

Sự khác biệt giữa chư Phật, Bồ-tát và phàm phu là ở chỗ khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần, các Ngài vẫn như như bất động, không khởi tâm động niệm, không phân biệt chấp trước. Vì sao? Bởi do các Ngài biết chuyển các thức thành trí, còn phàm phu chúng ta thì cứ mãi mê chấp vào các thức, cho đó là sự nhận biết thực sự nên chẳng thể phát huy chánh trí. Nói một cách cho rõ ràng hơn, “chuyển các thức thành trí” là chuyển vọng tưởng (A-lai-da thức) thành Đại Viên Minh Cảnh trí, chuyển tâm chấp trước (Mạt-na thức) thành Bình Đẳng Tánh trí và chuyển tâm phân biệt (Ý thức) thành Diệu Quán Sát trí. Bởi do chư Phật, Bồ-tát giác ngộ, thành tựu ngũ trí nên các Ngài biết rõ cảnh duyên tự nó không có mê ngộ; mê ngộ là do nơi tâm của mỗi chúng sanh có vọng tưởng, phân biệt và chấp trước. Tâm giác ngộ là Phật, Bồ-tát, tâm bị mê là phàm phu chúng sanh. Tuy tâm, Phật và chúng sanh là ba thứ, nhưng thật ra chỉ là cùng một cái tâm.

Nói cách khác, một người khi giác ngộ rốt ráo rồi, thì mười phương pháp giới từ lục đạo phàm phu cho đến Phật pháp giới đều chẳng còn nữa. Bát-nhã Tâm kinh diễn giảng cảnh giới ấy là: “Vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; vô sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; vô nhãn giới, nãi chí vô ý thức giới; vô vô minh, diệc vô vô minh tận; nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận; vô khổ, tập, diệt, đạo; vô trí diệc vô đắc.” Có nghĩa là trong Thật tướng vốn chẳng có mười phương pháp giới, cái thường hiện hữu chẳng sanh chẳng diệt chỉ là Chân tâm Tự tánh cùng với Nhất chân Pháp giới là một thể.

Chân tâm của chúng ta cũng giống như là cái TV; chúng ta muốn bậc lên đài nào thì đài đó hiện ra trên màn ảnh TV, chứ thật ra cái TV đâu phải là hình ảnh trên màn TV. Cũng giống như vậy, hết thảy cảnh duyên thiện ác, con người tốt xấu v.v… đều là do tâm mê của chính mình nghĩ tưởng mà biến hiện ra giống như hình ảnh hiện ra trên màn TV. Người học Phật hiểu được lý Chân Như Thật Tướng vốn là như vậy thì phải tin nơi Sự thì Lý Sự mới viên dung. Tin nơi Sự là tin có Phật A Di Đà tiếp dẫn chúng sanh, tin có Thế giới Cực Lạc, tin một khi chúng ta phát tâm niệm Phật liên tục, tha thiết phát nguyện vãng sanh thì chắc chắn là mình có đầy đủ nhân duyên, thiện căn, phước đức được vãng sanh, chẳng có chút nghi ngờ gì nữa. Nếu chúng ta có một chút ngờ vực là mình không có đủ tư cách để vãng sanh, tức là chẳng tin nơi Sự thì cái Lý mà chúng ta học từ kinh Phật chẳng có lợi ích chi cả.

Do vì tâm, Phật, chúng sanh vốn chỉ là một cái tâm mà ai nấy đều có giống hệt như nhau, nên nơi tâm mình chính là Tịnh độ, nơi tâm mình mà thành Phật, chứ đâu có thứ nào ở bên ngoài mà có thể được, nên đâu thể căn cứ vào đều kiện xuất gia tu, tại gia tu, tu chỗ nào, tu bao lâu v.v… để phán quyết sự thành tựu đạo vãng sanh. Một khi Phật tánh phát khởi ra được, liền hoàn toàn tương ứng với Phật A Di Đà và Tây Phương Tịnh độ; cho nên, bất cứ một chúng sanh nào cũng đều có thể vãng sanh. Chúng ta phải biết, dù chúng ta đang sống hay đã chết, dù chúng ta thường luôn luân chuyển trong sáu đường từ địa ngục cho đến các cõi trời; nhưng trong Thật tướng, cái Chân tâm của mình chẳng hề rời xa Thế giới Cực Lạc. Vấn đề là chúng ta mê hay ngộ? Khi thật sự liễu ngộ thì Thế giới Cực Lạc của A Di Đà Phật liền hiện ra ngay trước mắt; đây chính là cảnh giới Đại Niết Bàn thật sự. Còn nếu như chúng ta chấp mê chẳng ngộ thì sẽ không thể nào thấy được Thế giới Cực Lạc mà chỉ thấy toàn là cảnh khổ nạn, tai họa của thế gian. Vì lẽ đó, Bát Nhã Tâm Kinh mới nói: “Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát Nhã ba-la-mật-đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không độ nhất thiết khổ ách.” Chiếu kiến ngũ uẩn giai không độ nhất thiết khổ ách” có nghĩa là dùng ngũ trí để đối trị ngũ uẩn, không cho nó tác động mà sanh ra năm căn bản phiền não.

    « Xem chương trước «      « Sách này có 774 chương »       » Xem chương tiếp theo »
» Tải file Word về máy » - In chương sách này

Quý vị đang truy cập từ IP 3.87.147.184 (56071096) và chưa ghi danh hoặc đăng nhập trên máy tính này. Nếu là thành viên, quý vị chỉ cần đăng nhập một lần duy nhất trên thiết bị truy cập, bằng email và mật khẩu đã chọn.
Chúng tôi khuyến khích việc ghi danh thành viên ,để thuận tiện trong việc chia sẻ thông tin, chia sẻ kinh nghiệm sống giữa các thành viên, đồng thời quý vị cũng sẽ nhận được sự hỗ trợ kỹ thuật từ Ban Quản Trị trong quá trình sử dụng website này.
Việc ghi danh là hoàn toàn miễn phí và tự nguyện.

Ghi danh hoặc đăng nhập

Thành viên đang online:
Rộng Mở Tâm Hồn Tăng Văn Y Rộng Mở Tâm Hồn Kim Hà Rộng Mở Tâm Hồn Chin su Rộng Mở Tâm Hồn VĨNH HỮU Rộng Mở Tâm Hồn nguyen van toan Rộng Mở Tâm Hồn Phạm Thiên Rộng Mở Tâm Hồn van chương Rộng Mở Tâm Hồn Nguyen Xuan Son Rộng Mở Tâm Hồn Khiêm Nhẫn Rộng Mở Tâm Hồn Thích Thiện Đạo Rộng Mở Tâm Hồn Nguyễn Ngữ Rộng Mở Tâm Hồn Thùy Vân Rộng Mở Tâm Hồn Nguyên Quang Rộng Mở Tâm Hồn Minh Truong 1 Rộng Mở Tâm Hồn lehoangnam Rộng Mở Tâm Hồn hanh le Rộng Mở Tâm Hồn Lương Vĩnh Phúc Rộng Mở Tâm Hồn chuakimquy Rộng Mở Tâm Hồn Soline Rộng Mở Tâm Hồn Minh Hữu Rộng Mở Tâm Hồn Trần Bình Rộng Mở Tâm Hồn ducbinh Rộng Mở Tâm Hồn Người bình thường Rộng Mở Tâm Hồn Quanam Rộng Mở Tâm Hồn VietLong Rộng Mở Tâm Hồn Đức Đạt Rộng Mở Tâm Hồn Phap Am Rộng Mở Tâm Hồn NguyetMinh2811 Rộng Mở Tâm Hồn CHƠN HÒA GIỚI Rộng Mở Tâm Hồn Ngọc Doanh Rộng Mở Tâm Hồn Bữu Phước Rộng Mở Tâm Hồn Như Quang Rộng Mở Tâm Hồn Xuân Thôn Rộng Mở Tâm Hồn Lưu Văn Xuân Rộng Mở Tâm Hồn Phan Chí Chính Rộng Mở Tâm Hồn Tuyên Ân Rộng Mở Tâm Hồn Thu BÌnh Rộng Mở Tâm Hồn Quảng Tiến Rộng Mở Tâm Hồn Đức Hạnh Rộng Mở Tâm Hồn Thi Võ ... ...

Việt Nam (7.125 lượt xem) - Hoa Kỳ (1.497 lượt xem) - Palau (61 lượt xem) - Nhật Bản (51 lượt xem) - Singapore (51 lượt xem) - Na-uy (26 lượt xem) - Central African Republic (19 lượt xem) - Đức quốc (16 lượt xem) - Ấn Độ (16 lượt xem) - Cambodia (9 lượt xem) - Nga (7 lượt xem) - Pháp quốc (6 lượt xem) - Hà Lan (6 lượt xem) - Australia (5 lượt xem) - ... ...