Trong cuộc sống, điều quan trọng không phải bạn đang ở hoàn cảnh nào mà là bạn đang hướng đến mục đích gì. (The great thing in this world is not so much where you stand as in what direction you are moving. )Oliver Wendell Holmes
Cỏ làm hại ruộng vườn, si làm hại người đời. Bố thí người ly si, do vậy được quả lớn.Kinh Pháp Cú (Kệ số 358)
Hạnh phúc chân thật là sự yên vui, thanh thản mà mỗi chúng ta có thể đạt đến bất chấp những khó khăn hay nghịch cảnh. Tủ sách Rộng Mở Tâm Hồn
Rời bỏ uế trược, khéo nghiêm trì giới luật, sống khắc kỷ và chân thật, người như thế mới xứng đáng mặc áo cà-sa.Kinh Pháp cú (Kệ số 10)
Việc người khác ca ngợi bạn quá hơn sự thật tự nó không gây hại, nhưng thường sẽ khiến cho bạn tự nghĩ về mình quá hơn sự thật, và đó là khi tai họa bắt đầu.Rộng Mở Tâm Hồn
Bất lương không phải là tin hay không tin, mà bất lương là khi một người xác nhận rằng họ tin vào một điều mà thực sự họ không hề tin. (Infidelity does not consist in believing, or in disbelieving, it consists in professing to believe what he does not believe.)Thomas Paine
Con người sinh ra trần trụi và chết đi cũng không mang theo được gì. Tất cả những giá trị chân thật mà chúng ta có thể có được luôn nằm ngay trong cách mà chúng ta sử dụng thời gian của đời mình.Tủ sách Rộng Mở Tâm Hồn
Hãy học cách vui thích với những gì bạn có trong khi theo đuổi tất cả những gì bạn muốn. (Learn how to be happy with what you have while you pursue all that you want. )Jim Rohn
Sự toàn thiện không thể đạt đến, nhưng nếu hướng theo sự toàn thiện, ta sẽ có được sự tuyệt vời. (Perfection is not attainable, but if we chase perfection we can catch excellence.)Vince Lombardi
Chỉ có hai thời điểm mà ta không bị ràng buộc bởi bất cứ điều gì. Đó là lúc ta sinh ra đời và lúc ta nhắm mắt xuôi tay.Tủ sách Rộng Mở Tâm Hồn

Trang chủ »» Danh mục »» TỦ SÁCH RỘNG MỞ TÂM HỒN »» Tu học Phật pháp »» Đối cảnh vô tâm »»

Tu học Phật pháp
»» Đối cảnh vô tâm

(Lượt xem: 508)
Xem trong Thư phòng    Xem định dạng khác    Xem Mục lục 

       

Bài viết, tiểu luận, truyện ngắn - Đối cảnh vô tâm

Font chữ:

Từ những cảnh giới tu hành của chư vị Bồ-tát, chúng ta thấy chư Bồ-tát từ Tam Địa cho đến Lục Địa đều phải an trụ tâm trong Chánh pháp Đại thừa của Phật cho đến khi thật sự có đủ trí huệ vô tướng mới có thể xả bỏ hết thảy các pháp. Phàm phu chưa có trí huệ vô tướng học Phật đều phải tu trì theo kinh Phật để hiểu rõ Phật pháp mới có lợi ích chân thật trong cảnh giới hiện tại của chính mình. Nếu chúng ta cho những điều Phật dạy ra chẳng đáng để học, chẳng cần phải nghiên cứu, hiểu rõ cũng có thể tu được, thì đây là điều sai lầm rất lớn. Chúng ta chưa buông xả được vọng tưởng, phân biệt, chấp trước mà lại xả bỏ Phật pháp, liền lập tức lọt vào ma pháp. Hiện tại, chúng ta học Phật rất thường hay bị lạc vào ma trận, nhưng do nhờ thuộc kinh, luôn nghĩ nhớ lời Phật dạy, nên khi vừa khởi tâm động niệm, tham sân si mạn, liền mau chóng phản tỉnh mà thoát ra khỏi lưới ma kiến.

Chư cổ đức gọi người không hiểu rõ Phật pháp mà cứ tu càn tu bướng là “tu mù, luyện đui,” kinh Vô Lượng Thọ gọi người ấy là “kẻ mù đi trong đêm tối.” Người hiểu rõ Phật pháp mà chẳng chịu tu thì chư cổ đức gọi là “người nói ăn mà không ăn, nên trong bụng vẫn rỗng không, vẫn phải chịu đói.” Người vừa siêng năng học kinh để hiểu rõ Phật pháp, lại vừa chăm lo tu trì Phật pháp, tức là biết ứng dụng Phật pháp trong cuộc sống đời thường, thì chư cổ đức gọi là “người ăn bằng Phật pháp, mặc áo Phật pháp, ngủ trong Phật pháp, đi, đứng, nằm, ngồi thảy đều ở trong Phật pháp.” Người tu hành chân thật như thế, tất nhiên sẽ đắc các pháp Nhẫn, biết rõ Phật pháp là gì, tâm lượng của họ bao dung ví như hư không, thích với Trung đạo, trong ngoài tương ưng, luôn luôn vị tha và làm lợi ích người khác, tuyệt đối không nghĩ cho quyền lợi của chính mình. Nói tóm lại, người học Phật phải đả phá cái bệnh chấp ngã tới mức chỉ biết người, không còn biết tới mình nữa, thì mới gọi là biết rõ Phật pháp, đắc được các pháp Nhẫn. Nếu chưa làm được đến mức như vậy là vẫn chưa biết rõ Phật pháp, vẫn chưa thật sự tu trì Phật pháp.

Nhà Thiền thường nói: “Phật đến chém Phật, ma đến chém ma,” câu nói này hàm chứa ý nghĩa là đối với hết thảy cảnh tướng hiện ra trước mắt dù có biến đổi như thế nào, thuận hay nghịch, thiện hay ác, tự tâm chẳng hề lay động; đấy mới chính thực là đã buông xuống tới mức rốt ráo, ngay cả Phật Bảo mà còn buông xuống được, huống gì là những thứ khác. Người tu hành Phật pháp đạt tới mức giác ngộ thật sự như vậy, chẳng còn vướng mắc gì nữa, dù họ ở trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng không bao giờ động tâm, vì họ có đạo lực biết phân định cảnh giới nào là chân thực, cảnh giới nào là hư dối. Trong kinh Phật có một công án do Ngài Văn Thù Bồ-tát đề ra, Ngài bạch Phật: “Tối hôm trước con thấy Phật, thấy Pháp,” có nghĩa là Ngài thấy Phật nghe pháp. Thích Ca Mâu Ni Phật nghe vậy liền bảo: “Ta đã sớm đánh văng ông ta xuống Thiết Vi rồi.” Lời nói của Đức Phật hàm chứa ý nghĩa là: Nếu đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn bèn được Nhất tâm, trong cảnh giới ấy tâm vững chắc bất động như núi Thiết Vi, thì làm gì có cái gọi là Phật hay pháp để thấy. Đối với bậc địa thượng Bồ Tát đã đắc Căn Bản trí như Ngài Văn Thù chẳng hạn thì chỉ là Nhất tâm, chẳng còn thấy Phật cũng chẳng còn nghe pháp nữa, hết thảy các pháp đều tịch diệt, nên các Ngài đối với hết thảy cảnh tướng hiện ra trước mắt đều chỉ là vô tâm, chẳng hề khởi tâm động niệm. Còn đối với các bậc trung hạ căn như chúng ta thì sao? Rời Phật nữa bước liền thấy ma, nghe kinh sai một chữ liền rơi vào đường tà. Đấy là tình trạng học Phật của người trung hạ căn. Nếu người thuộc trung hạ căn nghe câu “Ta đã sớm đánh văng ông ta xuống Thiết Vi rồi” hoặc “Phật đến chém Phật, ma đến chém ma” mà chẳng biết hai câu nói này dành riêng cho bậc Thượng Địa Bồ-tát đã chứng Vô Sanh Pháp Nhẫn, bèn bỏ Phật, bỏ pháp thì quá đỗi sai lầm.

Hạng trung hạ căn như bọn chúng ta chỉ phải biết tuân mệnh lời Phật dạy, thường xuyên đọc kinh Phật, thường nghiên cứu kinh Phật để có được sự tin hiểu rõ ràng, minh bạch pháp môn mình tu. Thế nhưng chúng ta cũng phải biết, đọc kinh, nghiên cứu kinh là cách học Phật duy nhất của hàng trung hạ trong Phật pháp, chớ chẳng phải là Phật pháp tối cao. Trong Phật pháp tối cao, những việc ấy đều chẳng có, đều phải xả bỏ hết sạch sành sanh những thứ ấy, mới có thể thật sự chứng được cái gọi là ”vạn pháp như một, chúng sanh và Phật bất nhị.” “Chúng sanh và Phật là một chẳng hai” là cảnh giới cao tột bậc nhất của người niệm Phật đắc Lý Nhất tâm Bất loạn. Học Phật cầu giải thoát, cầu tự tại mà không chấp trước chính là giải thoát, hễ giải thoát thì được tự tại. Giải thoát là không còn bị ngũ dục trói buộc, không bị trần cảnh nắm giữ, có được như vậy mới thoát ra khỏi tam giới, đến được cõi Tịnh độ Thường Tịch Quang, gần gũi chư Phật và các vị Bồ-tát. Chỉ có Thường Tịch Quang độ mới là cảnh giới chân thực, ngoài cảnh giới này ra, tất cả các cảnh giới trong các cõi khác đều chỉ như là bóng ảnh mà thôi.

Thế nào là cảnh giới chân thực của Thường Tịch Quang độ? Ðại Viên Kính trí là cảnh giới chân thực của Thường Tịch Quang độ, còn cảnh giới thường hiện ra trong tâm thức phân biệt chấp trước của mình đều là giả. Cho nên trong nhà Phật mới có câu: “Đối cảnh vô tâm” và “Có tâm tức thị vọng tưởng, vô tâm tức thị cảm ứng.” Khi nào trong tâm mình không còn khởi lên một ý niệm nào hết thì mọi cảnh giới trước mắt đều tự nhiên trở nên chân thực, giải thoát và tư tại. Một khi tâm khởi vọng động thì cái nào mình thấy, nghe, nếm, ngửi, xúc chạm cũng đều là hư dối. Cho nên, người học Phật nhất định phải có con mắt trạch pháp, biết nhận thức cảnh giới mà không chấp vào chúng. Bất luận đó là cảnh thực hay giả, thuận hay nghịch, thiện hay ác, đều không phân biệt chấp trước, thì đó mới là đối cảnh vô tâm. Nếu ngay cả Phật và ma cũng chẳng phân biệt chấp trước như nhà Thiền nói: “Phật đến chém Phật, ma đến chém ma” và như Thế Tôn bảo: “Ta đã sớm đánh văng ông ta xuống Thiết Vy rồi,” thì có gì khác đáng để chúng ta phân biệt chấp trước nữa chứ! Lúc ấy cảnh giới hiện ra trước mắt chỉ là Thường Tịch Quang độ của chư Phật.

Chư cổ đức dạy: “Nếu chấp thì Phật cũng biến thành ma, nếu chẳng chấp thì ma cũng biến thành Phật.” Khi xưa, Đức Thích Ca Mâu Ni Phật ngồi Thiền dưới cây Bồ-đề Đạo Tràng, ma vương Ba Tuần tới quấy phá. Lúc ban đầu tâm của Ngài có chút dao động, nhưng ngay sau đó liền tỉnh ngộ, loại trừ hết những ý nghĩ phân biệt chấp trước trong tâm, bèn thấy ma vương Ba Tuần cũng là Phật. Trong một sát-na tỉnh ngộ ấy, Ngài liền chứng quả vị Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Nói theo Khoa học Vật lý thì băng vốn từ nước, nhưng nước chẳng phải là băng. Nói theo Phật pháp, phiền não tức Bồ-đề nhưng Bồ-đề chẳng phải phiền não. Băng tượng trưng cho phiền não, nước tượng trưng cho Bồ-đề, độ lạnh của nước tượng trưng cho vô minh. Vì vô minh nên Bồ-đề biến thành phiền não; cũng giống như vậy, vì độ lạnh mà nước kết thành băng. Nếu không còn vô minh thì phiền não sẽ tự nhiên hóa ra Bồ-đề, nếu không còn độ lạnh thì băng tự nhiên sẽ tan biến ra thành nước. Một khi tâm là phiền não thì phải ở trong tam giới chịu vòng sanh tử, một khi tâm là Bồ-đề thì tự nhiên thoát ra khỏi tam giới chẳng còn sanh tử nữa. Vậy, Phật hay ma, phiền não hay Bồ-đề đều do từ cái tâm này biến hiện ra mà thôi; vô tâm là Phật, hữu tâm là chúng sanh. Vì thế, Lục Tổ Huệ mới nói: “Chẳng nghĩ thiện, chẳng nghĩ ác, ngay lúc đó, cái gì là bản lai diện mục của Thượng-tọa Minh?” Tối ngày từ sáng tới tối đều nghĩ đến điều thiện mà còn bị Tổ chê là chưa dứt được vọng tưởng phiền não thì làm sao dám nghĩ nhớ đến những điều bất thiện và phiền não được chứ! Nói cách khác, nếu sáu căn thanh triệt không có não loạn, tức trong tâm không có niệm nào hết, hoàn toàn vô niệm, vô trụ, nhất thiết không, chẳng có cái gì hết, chẳng nghĩ thiện cũng chẳng nghĩ ác, thì sẽ thấy được bản lai diện mục của chính mình, thấy được gốc gác của chính mình, thì đấy mới là ý nghĩa thật sự của việc thấy cây Bồ-đề nơi cõi Cực Lạc.

Tây Phương Cực Lạc Thế Giới là cảnh tướng biến hiện ra từ bổn lai diện mục của Thượng-tọa Minh, tức là từ bản thể của Chân tâm Tự tánh, nên Phật bảo A Nan: “cõi Phật như thế, cây cối hoa quả, cùng các chúng sanh, đều làm Phật sự, đây thảy đều do, nơi sức oai thần, nơi Sức Bổn Nguyện, nơi Mãn Túc Nguyện, nơi Minh Liễu nguyện, Kiên Cố Nguyện và Cứu Cánh Nguyện của Phật Vô Lượng Thọ.” Thế giới Cực Lạc hy hữu chẳng thể nghĩ bàn đến mức như thế ấy. Nơi đó, hoa, quả, cây cối đều làm Phật sự, thuyết pháp độ sanh, làm tăng trưởng thiện căn thù thắng của hữu tình khiến họ đắc được ba Nhẫn, chứng nhập Vô Sanh. Đấy là do trong lúc tu nhân, Phật Di Ðà phát ra lời nguyện 47: Nghe Danh Đặng Pháp Nhẫn, nay nguyện lực này đã thành tựu công đức thù thắng như thế đó. Bất cứ người nào vãng sanh cũng đều được thấy cây Bồ-đề, đều đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn, chứng ngay địa vị Bát địa Bồ-tát; đó đều do nơi Sức Oai Thần, nơi Sức Bổn Nguyện, nơi Mãn Túc Nguyện, nơi Minh Liễu Nguyện, nơi Kiên Cố Nguyện và nơi Cứu Cánh Nguyện của Phật Vô Lượng Thọ.

Hành nhân đắc được ba Nhẫn (Âm Thanh Nhẫn, Nhu Thuận Nhẫn và Vô Sanh Pháp Nhẫn) là do biết nương vào oai lực gia trì hiện tại của Phật A Di Đà và bổn nguyện lực trong quá khứ của Phật A Di Đà. Do nhờ vào Sức Bổn Nguyện, tức là Bốn Mươi Tám Đại Nguyện của Phật A Di Đà lúc tu nhân, nên ngày nay mới có cái gọi là Sức Oai Thần, tức là thần lực tự tại của Phật Di Ðà. Sức Bổn Nguyện và Sức Oai Thần hỗ trợ lẫn nhau, rốt ráo chẳng có sai biệt, chẳng phí uổng, chẳng dối bày là vì nguyện biến thành lực, lực nhằm thành tựu nguyện. Cho nên, khi chúng ta thọ trì kinh Vô Lượng Thọ cũng chính là đang nương vào Sức Oai Thần của Phật A Di Đà, khi chúng ta đang quán Bốn Mươi Tám Đại Nguyện cũng chính là đang nương vào Sức Bổn Nguyện của Phật A Di Đà. Do hai lực này hỗ trợ lẫn nhau nên khiến cho tâm nguyện của mình tương ứng với bổn nguyện của Phật A Di Đà, nhờ đó mà tiếp nhận được trọn vẹn, đầy đủ biển báu công đức lớn từ Sức Bổn Nguyện và Sức Oai Thần của Phật mà đắc được ba nhẫn. Điều này cho ta thấy, sự gặp gỡ và thọ trì kinh Vô Lượng Thọ thật chẳng luống uổng công phu; cho nên, Phật khuyên hết thảy chúng sanh phải ngày đêm tinh tấn an trụ tâm mình trong kinh này, tất nhiên sẽ có ngày đặng quả, nguyện nào cũng sẽ được thành tựu; giống như có một người ăn bằng Phật pháp, mặc áo Phật pháp, ngủ trong Phật pháp, đi, đứng, nằm, ngồi thảy đều ở trong Phật pháp, thì nhất định người ấy sẽ được giải thoát tự tại ngay trong hiện tại và sớm thành Phật trong tương lai.

Lại nữa, do Bốn Mươi Tám Đại Nguyện của Phật A Di Đà vốn đầy đủ trọn vẹn hết thảy các đức, không thiếu sót, chẳng khuyết giảm, nên kinh gọi là Mãn Túc Nguyện. Do Bốn Mươi Tám Đại Nguyện của Đức Phật A Di Đà minh bạch rõ ràng, minh và huệ tương ứng với nhau một cách rành rẽ chẳng hư dối, nên kinh gọi là Minh Liễu Nguyện. Do sự tinh tấn cầu đạo chẳng thoái chuyển của Phật A Di Đà lúc còn tu nhân tạo thành Bốn Mươi Tám Nguyện kiên cố, vĩnh viễn không bị hủy hoại bởi các duyên, nên kinh gọi là Kiên Cố Nguyện. Cuối cùng, do Bốn Mươi Tám Đại Nguyện của Phật A Di Đà đạt đến rốt ráo, tột cùng bờ mé của pháp giới hữu tình, kết quả chẳng thoái thất, có thể độ sạch hết thảy hữu tình trong pháp giới, nên kinh gọi là Cứu Cánh Nguyện. Trong Bốn Mươi Tám Đại Nguyện của Phật A Di Đà, nguyện nào cũng đầy đủ trọn vẹn ba đức Bi, Trí và Dũng; cho nên trì quán kinh Vô Lượng Thọ hay nhẫn đến chỉ trì quán Bốn Mươi Tám Đại Nguyện của Phật A Di Đà được ghi chép trong kinh Vô Lượng Thọ, chính là nương vào Sức Oai Thần và Sức Bổn Nguyện của Phật A Di Đà để thành tựu được vô lượng vô biên các nguyện hạnh giống như Phật A Di Đà, đấy mới chính thực là Mãn Túc Nguyện, Minh liễu Nguyện, Kiên Cố Nguyện và Cứu Cánh Nguyện.




    « Xem chương trước «      « Sách này có 1029 chương »       » Xem chương tiếp theo »
» Tải file Word về máy » - In chương sách này

Quý vị đang truy cập từ IP 3.92.74.105 và chưa ghi danh hoặc đăng nhập trên máy tính này. Nếu là thành viên, quý vị chỉ cần đăng nhập một lần duy nhất trên thiết bị truy cập, bằng email và mật khẩu đã chọn.
Chúng tôi khuyến khích việc ghi danh thành viên ,để thuận tiện trong việc chia sẻ thông tin, chia sẻ kinh nghiệm sống giữa các thành viên, đồng thời quý vị cũng sẽ nhận được sự hỗ trợ kỹ thuật từ Ban Quản Trị trong quá trình sử dụng website này.
Việc ghi danh là hoàn toàn miễn phí và tự nguyện.

Ghi danh hoặc đăng nhập

Thành viên đang online:
Rộng Mở Tâm Hồn NGUYỄN TRỌNG TÀI Rộng Mở Tâm Hồn Khải Chúng Rộng Mở Tâm Hồn Vannguyennguyen Rộng Mở Tâm Hồn Catman Rộng Mở Tâm Hồn Chan Hoa Rộng Mở Tâm Hồn Bá láp Rộng Mở Tâm Hồn Nguyên Ngọc Rộng Mở Tâm Hồn Quảng Khang Rộng Mở Tâm Hồn Duc Tran Rộng Mở Tâm Hồn Thiện Hướng Rộng Mở Tâm Hồn Nguyễn Thoa Rộng Mở Tâm Hồn van chương Rộng Mở Tâm Hồn hieu60 Rộng Mở Tâm Hồn Huệ Lộc 1959 Rộng Mở Tâm Hồn Quan Minh Rộng Mở Tâm Hồn MD Rộng Mở Tâm Hồn huyminh125 Rộng Mở Tâm Hồn ntha102 Rộng Mở Tâm Hồn sang Rộng Mở Tâm Hồn Long Việt Rộng Mở Tâm Hồn hoangquycong Rộng Mở Tâm Hồn Thiên địa nhân Rộng Mở Tâm Hồn Mỹ Thuật Buddhist Art Rộng Mở Tâm Hồn tony coi Rộng Mở Tâm Hồn Vương Sỹ Mốt Rộng Mở Tâm Hồn Hoàng Việt Rộng Mở Tâm Hồn Thang Rộng Mở Tâm Hồn Lê Kim Chi Rộng Mở Tâm Hồn duyhph Rộng Mở Tâm Hồn Nguyên Chơn Rộng Mở Tâm Hồn BANGKIM Rộng Mở Tâm Hồn Vạn Bình Rộng Mở Tâm Hồn mydung Rộng Mở Tâm Hồn Huy Le Rộng Mở Tâm Hồn Minh Hữu Rộng Mở Tâm Hồn Tuấn Hải Rộng Mở Tâm Hồn thái quân Rộng Mở Tâm Hồn Huệ Trí 1975 Rộng Mở Tâm Hồn thường huệ nguyên Rộng Mở Tâm Hồn Văn Minh Hy Lạp ... ...

Việt Nam (1.928 lượt xem) - Hoa Kỳ (153 lượt xem) - Nhật Bản (84 lượt xem) - Trung Hoa (48 lượt xem) - Senegal (40 lượt xem) - Central African Republic (37 lượt xem) - Phần Lan (26 lượt xem) - Pháp quốc (18 lượt xem) - Lào (10 lượt xem) - Australia (2 lượt xem) - Ma-cao (2 lượt xem) - ... ...