Chớ khinh thường việc ác nhỏ mà làm; đốm lửa nhỏ có thể thiêu cháy cả núi rừng làng mạc. Chớ chê bỏ việc thiện nhỏ mà không làm, như giọt nước nhỏ lâu ngày cũng làm đầy chum vại lớn.Lời Phật dạy
Người thành công là người có thể xây dựng một nền tảng vững chắc bằng chính những viên gạch người khác đã ném vào anh ta.
(A successful man is one who can lay a firm foundation with the bricks others have thrown at him.)David Brinkley
Chưa từng có ai trở nên nghèo khó vì cho đi những gì mình có. (No-one has ever become poor by giving.)Anne Frank
Đừng cố trở nên một người thành đạt, tốt hơn nên cố gắng trở thành một người có phẩm giá.
(Try not to become a man of success, but rather try to become a man of value.)Albert Einstein
Thương yêu là phương thuốc diệu kỳ có thể giúp mỗi người chúng ta xoa dịu những nỗi đau của chính mình và mọi người quanh ta.Tủ sách Rộng Mở Tâm Hồn
Người hiền lìa bỏ không bàn đến những điều tham dục.Kẻ trí không còn niệm mừng lo, nên chẳng bị lay động vì sự khổ hay vui.Kinh Pháp cú (Kệ số 83)
Ðêm dài cho kẻ thức, đường dài cho kẻ mệt,
luân hồi dài, kẻ ngu, không biết chơn diệu pháp.Kinh Pháp cú (Kệ số 60)
Thành công là khi bạn đứng dậy nhiều hơn số lần vấp ngã.
(Success is falling nine times and getting up ten.)Jon Bon Jovi
Mục đích của cuộc sống là sống có mục đích.Sưu tầm
Hạnh phúc giống như một nụ hôn. Bạn phải chia sẻ với một ai đó mới có thể tận hưởng được nó.
(Happiness is like a kiss. You must share it to enjoy it.)Bernard Meltzer
Cái hại của sự nóng giận là phá hoại các pháp lành, làm mất danh tiếng tốt, khiến cho đời này và đời sau chẳng ai muốn gặp gỡ mình.Kinh Lời dạy cuối cùng
Đương gia hòa thượng của am Dương Chi tên là Như Quang, có giữ trong am
một bức tranh do vị họa sĩ nổi danh đời Đường là Diêm Lập vẽ. Đó là bức
“Quán Âm Đại Sĩ đồ tượng”. Tranh vẽ Quán Âm Đại sĩ đầu đội mão châu
ngọc, khoác áo gấm, tay phải cầm cành dương liễu, tay trái cầm tịnh
bình, linh động như người sống, thật là diệu tướng trang nghiêm.
Có một bức họa nổi tiếng như thế, am Dương Chi rất là tấp nập. Nào là
những bậc học sĩ phong nhã, nào là khách hành hương đến lễ núi Phổ Đà,
ai cũng muốn đến nhìn ngắm, lễ bái, ngày nào khách khứa cũng đến như
nước chảy xiết không ngừng, khiến cho am Dương Chi nổi tiếng như cồn.
Có người khuyên Như Quang hòa thượng nên đem bức tranh quý vẽ pháp tượng
Bồ Tát Quán Âm treo trên chánh điện nhưng ngài sợ đông người tạp nhạp
làm hư hoại bức tranh, nên chỉ thờ bức tranh ấy trong một thiền phòng ở
viện sau.
Một hôm, có một cụ già quắc thước, tóc bạc phơ đến am Dương Chi, đứng
trước bức tranh Quán Âm ngắm nghía thật lâu, chân đi không đành. Hoà
thượng Như Quang thấy thái độ cụ già như thế bèn đến chắp tay xá:
– Thí chủ có vẻ ái mộ bức tranh này?
Cụ già cũng vái trả đáp lễ đáp rằng:
– Đẹp lắm! Vẽ đẹp lắm! Bút tích thật là tuyệt diệu, đáng cho hậu thế
khâm phục! Tại sao Pháp sư không cho tạc bức tranh này lên đá, thờ trên
chánh điện cho đại chúng lễ bái?
Hoà Thượng Như Quang nghe thế thật đúng tâm ý của mình nên vội đáp:
– Đúng thế, đúng thế! Ý của cụ rất hay, nhưng hiện nay tìm đâu cho ra
một người thợ điêu khắc tài hoa tinh xảo?
Cụ già nói:
– Nếu như Pháp sư không chê, có thể để cho lão tạc thử xem được không?
Hoà thượng nhìn lão già trân trân, gật đầu đồng ý. Hôm sau, cụ già cõng
một khối đá xanh bằng phẳng trơn tru đến phòng thiền ở viện sau. Cụ ngồi
trước bức tranh ngắm nhìn nguyên cả một ngày, rồi cười cười bỏ đi.
Hôm sau nữa, cụ già lại cõng đến đủ thứ dụng cụ khắc tượng, lại ngồi
trước bức tranh ngắm nhìn nguyên cả một ngày, rồi cười cười bỏ đi.
Cụ già ngồi trước bức tranh ngắm nhìn ba ngày, rồi suy nghĩ thêm ba
ngày, đến ngày thứ 7, cụ cầm cây bút tre, chuyên chú vẽ lại bức tranh
trên khối đá xanh. Vẽ xong, cụ bèn dùng mũi nhọn và sắc của cái đục, vừa
đục vừa tạc, bắt đầu điêu khắc. Hoà thượng Như Quang sai người đem cơm
chay đến, cụ không dùng; cho người đem trà thơm lên, cụ không uống, cứ
thế cho đến khuya khoắt, cứ “bong bong, bong bong” mà đục mà khắc liền
tay.
Không biết trải qua bao ngày bao đêm như thế, đột nhiên một đêm nọ,
tiếng “bong, bong” ngừng bặt, hoà thượng Như Quang vội vàng mặc y áo ra
khỏi giường, đến phòng thiền ở phòng sau xem xét, thì không thấy cụ già
đâu nhưng có một bia đá tạc hình ngài Quán Âm đã dựng ở đấy rồi, và bức
tranh tạc tên đá giống hệt như bức tranh mẫu. Hoà thượng Như Quang rất
hài lòng, đem phiến đá tạc hình ngài Quán Âm thờ ở chính điện. Từ đó,
khách đến am lễ bái lại càng đông hơn nữa.
Đến năm Vạn Lịch nhà Minh, có một đêm tối đen như mực, đưa tay ra không
nhìn thấy năm ngón, am Dương Chi bị lửa cháy, lửa cao tới trời, tất cả
chỉ còn lại đống tro tàn, bức hình Ngài Quán Âm cũng không thoát khỏi
ách nạn. Hoà thượng Như Quang xông tới đống ngói còn nóng như thiêu đốt,
dùng tay trần mà bới mà đào, vẫn không sao tìm thấy bia đá có tạc hình
Ngài Quán Âm. Ngài cứ quay cuồng nơi ấy, tâm lo lắng như nung như nấu.
Chúng tăng trong chùa thấy hoà thượng như vậy, một mặt thì an ủi, một
mặt thì chia nhau đi các núi, các thung lũng tìm kiếm, nhưng tìm khắp
núi Phổ Đà cũng không tìm ra dấu vết.
Một buổi trưa nọ, có một chú tiểu đến trước mặt hòa thượng nói:
– Sư phụ ơi, đừng khóc nữa, bảo tượng Bồ Tát Quán Âm đã trở về rồi!
Ngài Như Quang mở đôi mắt nhòa lệ nhìn chú tiểu nói:
– Con đừng nói lời an ủi ta, ta đau lòng quá rồi!
Chú tiểu thành thật nói:
– Thật mà, sư phụ, đệ tử có bao giờ nói dối đâu! Không tin, thỉnh sư phụ
tới xem!
Hoà thượng Như Quang nửa tin nửa ngờ, theo gót chú tiểu đến cửa Nam
Thiên. Thoáng nhìn, ngài thấy trên một bãi cát không xa bờ biển, bia đá
có khắc tượng Dương Chi Quán Âm nghiêng nghiêng tựa trên mặt một tảng đá
ngầm, sáng loáng phát quang dưới ánh mặt trời, tợ như từ dưới biển trồi
lên, nổi trên mặt nước mới tấp vào bờ vậy.
Hoà thượng Như Quang mừng không thể tả, lập tức bảo chúng tăng khiêng
bia về am.
Làm sao bia Dương Chi Quán Âm lại từ dưới biển trồi lên? Nguyên do là
đêm tối trời ấy có một tốp “giặc lùn” lén mò lên Phổ Đà Sơn, không ăn
cắp được tranh bèn lấy trộm Quán Âm bia rồi còn đốt cháy am Dương Chi
nữa. Có ngờ đâu khi tàu cướp vừa đến biển Liên Hoa, một trận gió dữ
thình lình nổi lên, tàu giặc mất phương hướng, bị sóng xô giạt tới cửa
Nam Thiên, húc phải đá ngầm khiến tàu bị lật, bia đá Quán Âm mới dựa
nghiêng trên mặt tảng đá ngầm như vậy.
Tìm được bia đá rồi, trước hết, hoà thượng Như Quang đem bia tới chùa
Phổ Tế thờ tạm, đợi am Dương Chi xây lại xong mới nghênh tiếp bia về
nguyên xứ. Cho đến ngày nay, hễ đến Phổ Đà Sơn du lịch, ai cũng muốn
được ngắm nhìn một lần tấm bia Quán Âm đã thoát được tai ách lớn và nghe
lại một lần truyền thuyết của tấm bia ấy.
Chú ý: Việc đăng nhập thường chỉ thực hiện một lần...
Quý vị đang truy cập từ IP 216.73.216.22 và chưa ghi danh hoặc đăng nhập trên máy tính này. Nếu là thành viên, quý vị chỉ cần đăng nhập một lần duy nhất trên thiết bị truy cập, bằng email và mật khẩu đã chọn.
Chúng tôi khuyến khích việc ghi danh thành viên ,để thuận tiện trong việc chia sẻ thông tin, chia sẻ kinh nghiệm sống giữa các thành viên, đồng thời quý vị cũng sẽ nhận được sự hỗ trợ kỹ thuật từ Ban Quản Trị trong quá trình sử dụng website này. Việc ghi danh là hoàn toàn miễn phí và tự nguyện.
Ghi danh hoặc đăng nhập
Thành viên đang online: Viên Hiếu Thành Huệ Lộc 1959 Bữu Phước Chúc Huy Minh Pháp Tự minh hung thich Diệu Âm Phúc Thành Phan Huy Triều Phạm Thiên Trương Quang Quý Johny Dinhvinh1964 Pascal Bui Vạn Phúc Giác Quý Trần Thị Huyền Chanhniem Forever NGUYỄN TRỌNG TÀI KỲ Dương Ngọc Cường Mr. Device Tri Huynh Thích Nguyên Mạnh Thích Quảng Ba T TH Tam Thien Tam Nguyễn Sĩ Long caokiem hoangquycong Lãn Tử Ton That Nguyen ngtieudao Lê Quốc Việt Du Miên Quang-Tu Vu phamthanh210 An Khang 63 zeus7777 Trương Ngọc Trân Diệu Tiến ... ...