Nay vui, đời sau vui, làm phước, hai đời vui.Kinh Pháp Cú (Kệ số 16)
Người ta trói buộc với vợ con, nhà cửa còn hơn cả sự giam cầm nơi lao ngục. Lao ngục còn có hạn kỳ được thả ra, vợ con chẳng thể có lấy một chốc lát xa lìa.Kinh Bốn mươi hai chương
Người tốt không cần đến luật pháp để buộc họ làm điều tốt, nhưng kẻ xấu thì luôn muốn tìm cách né tránh pháp luật. (Good people do not need laws to tell them to act responsibly, while bad people will find a way around the laws.)Plato
Hào phóng đúng nghĩa với tương lai chính là cống hiến tất cả cho hiện tại. (Real generosity toward the future lies in giving all to the present.)Albert Camus
Đừng cư xử với người khác tương ứng với sự xấu xa của họ, mà hãy cư xử tương ứng với sự tốt đẹp của bạn. (Don't treat people as bad as they are, treat them as good as you are.)Khuyết danh
Tôn giáo không có nghĩa là giới điều, đền miếu, tu viện hay các dấu hiệu bên ngoài, vì đó chỉ là các yếu tố hỗ trợ trong việc điều phục tâm. Khi tâm được điều phục, mỗi người mới thực sự là một hành giả tôn giáo.Đức Đạt-lai Lạt-ma XIV
Điều khác biệt giữa sự ngu ngốc và thiên tài là: thiên tài vẫn luôn có giới hạn còn sự ngu ngốc thì không. (The difference between stupidity and genius is that genius has its limits.)Albert Einstein
Thật không dễ dàng để tìm được hạnh phúc trong chính bản thân ta, nhưng truy tìm hạnh phúc ở bất kỳ nơi nào khác lại là điều không thể. (It is not easy to find happiness in ourselves, and it is not possible to find it elsewhere.)Agnes Repplier
Tôi không thể thay đổi hướng gió, nhưng tôi có thể điều chỉnh cánh buồm để luôn đi đến đích. (I can't change the direction of the wind, but I can adjust my sails to always reach my destination.)Jimmy Dean
Các sinh vật đang sống trên địa cầu này, dù là người hay vật, là để cống hiến theo cách riêng của mình, cho cái đẹp và sự thịnh vượng của thế giới.Đức Đạt-lai Lạt-ma XIV
Trang chủ »» Danh mục »» Từ điển Phật học Tinh tuyển »» Đang xem mục từ: Linh Thạch Như Chi »»
(寂室元光, Jakushitsu Genkō, 1290-1367): vị Thiền Tăng của Phái Đại Giác (大覺派) thuộc Lâm Tế Tông, xuất thân vùng Cao Điền (高田), Mỹ Tác (美作, Mimasaka, thuộc Okayama-ken [岡山縣]), đạo hiệu Thiết Thuyền (鉄船), Tịch Thất (寂室), thụy hiệu Viên Ứng Thiền Sư (圓應禪師); họ là Đằng Nguyên (藤原, Fujiwara). Năm lên 13 tuổi, ông xuất gia, rồi theo hầu Vô Vi Chiêu Nguyên (無爲昭元) ở Tam Thánh Tự (三聖寺) thuộc vùng Sơn Thành (山城, Yamashiro, Kyoto-fu [京都府]), sau đó thì thọ Cụ Túc Giới. Năm 16 tuổi, ông đi theo hầu Ước Ông Đức Kiệm (約翁德儉) ở Thiền Hưng Tự (禪興寺) thuộc vùng Tương Mô (相模, Sagami, Kanagawa-ken [神奈川縣]), đến các chùa như Kiến Nhân (建仁), Kiến Trường (建長), Nam Thiền (南禪). Vào năm thứ 2 (1320) niên hiệu Nguyên Ứng (元應), ông cùng với Khả Ông Tông Nhiên (可翁宗然), Độn Am Tuấn Đẳng (鈍庵俊等) sang nhà Nguyên cầu pháp. Tại đó ông đã từng đến tham yết Tông Phong Minh Bổn (宗峰明本) ở Thiên Mục Sơn (天目山), rồi kế đến một số bậc Thiền Tăng nổi tiếng đương thời như Nguyên Tẩu Hành Đoan (元叟行端), Cổ Lâm Thanh Mậu (古林清茂), Thanh Chuyết Chánh Trừng (清拙正澄), Linh Thạch Như Chi (靈石如芝), Tuyệt Học Thế Thành (絕學世誠), Vô Kiến Tiên Đỗ (無見先覩), Đoạn Nhai Liễu Nghĩa (斷崖了義), v.v., rồi sau đó trở về nước. Vào năm đầu (1334) niên hiệu Kiến Võ (建武), có người cư sĩ họ Bình ở vùng Bị Hậu (僃後, Bingo, thuộc Okayama-ken) xây dựng nên Vĩnh Đức Tự (永德寺) rồi thỉnh ông đến đây trú trì. Sau đó ông lánh xa thế tục mà sống ẩn cư suốt trong vòng 25 năm, và rồi vào năm thứ 2 (1351) niên hiệu Quán Ứng (觀應), ông lại đến sống ở Phước Nghiêm Tự (福嚴寺) thuộc vùng Nhiếp Tân (攝津, Settsu, thuộc Hyōgo-ken [兵庫縣]), cũng như Vãng Sanh Tự (徃生寺) ở vùng Cận Giang (近江, Ōmi, thuộc Shiga-ken [滋賀縣]). Đến năm đầu (1361) niên hiệu Khang Nguyên (康元), thể theo lời thỉnh cầu của vị Quốc Chủ vùng Cận Giang là Tá Tá Mộc Thị Lại (佐々木氏賴, Sasaki Ujiyori), ông đến làm Tổ khai sơn của Vĩnh Nguyên Tự (永源寺, Eigen-ji). Khi ấy tương truyền rằng đồ chúng của ông đến cầu pháp lên đến hơn 2000 người. Vào ngày mồng 1 tháng 9 năm thứ 6 niên hiệu Trinh Trị (貞治), ông thị tịch, hưởng thọ 78 tuổi đời và 63 pháp lạp. Vào năm 1395, ông được ban thụy hiệu là Viên Ứng Thiền Sư. Trước tác của ông có bộ Vĩnh Nguyên Tịch Thất Hòa Thượng Ngữ Lục (永源寂室和尚語錄) 2 quyển.
(中巖圓月, Chūgan Engetsu, 1300-1375): vị Thiền Tăng của Phái Dương Kì (楊岐) và Đại Huệ (大慧), thuộc Lâm Tế Tông, người vùng Tương Mô (相模, Sagami, Kanagawa-ken [神奈川縣]), húy là Viên Nguyệt (圓月), đạo hiệu là Trung Nham (中巖, hay còn gọi là Trung Chánh Tử (中正子); thụy hiệu là Phật Chủng Huệ Tế Thiền Sư (佛種慧濟禪師); họ Thổ Ốc (土屋). Năm lên 8 tuổi, ông xuất gia ở Thọ Phước Tự (壽福寺), đến năm 13 tuổi thì thọ Cụ Túc Giới với Luật Sư Tử Sơn (梓山). Ban đầu, ông theo học Luật ở Tam Bảo Viện (三寶院), nhưng sau thì chuyển sang tu Thiền, và đã từng đến tham vấn những bậc cao túc như Khoan Thông Viên (寛通圓), Ước Ông Đức Kiệm (約翁德儉), Hiểm Nhai Xảo An (嶮崖巧安), Vân Ốc Huệ Luân (雲屋慧輪), Đông Minh Huệ Nhật (東明慧日), v.v. Vào năm thứ 2 (1318) niên hiệu Văn Bảo (文保), ông đi dạo chơi ở miền Nam, đến vùng Trúc Tiền (筑前, Chikuzen, thuộc Fukuoka-ken [福岡縣]), rồi đến tham bái Tuyệt Nhai Tông Trác (絕崖宗卓) ở Vạn Thọ Tự (萬壽寺). Hơn nữa, ông còn đến bái yết những vị cao Tăng ở vùng Việt Tiền (越前, Echizen, thuộc Fukui-ken [福井縣]) như Nghĩa Vân (義雲), Ngọc Sơn Đức Tuyền (玉山德璇), Linh Sơn Đạo Ẩn (靈山道隱), Hổ Quan Sư Luyện (虎關師錬), v.v. Vào năm thứ 2 (1325) niên hiệu Chánh Trung (正中), ông sang nhà Nguyên cầu pháp, rồi sau khi đến tham vấn những bậc lão túc như Linh Thạch Như Chi (靈石如芝), Cổ Lâm Thanh Mậu (古林清茂), Long Sơn Đức Kiến (龍山德見), Tuyệt Tế Vĩnh Trung (絕際永中), v.v., ông đến học đạo với Đông Dương Đức Huy (東陽德輝), và làm Thư Ký cho vị này. Sau ông kế thừa dòng pháp của Đức Huy. Vào năm đầu (1332) niên hiệu Chánh Khánh (正慶), ông trở về nước, đến sống ở Nam Thiền Tự (南禪寺, Nanzen-ji) để phụ giúp cho Minh Cực Sở Tuấn (明極楚俊). Đến năm thứ 2 (1339) niên hiệu Lịch Ứng (曆應), ông đến khai sơn Cát Tường Tự (吉祥寺) ở vùng Thượng Dã (上野, Ueno, thuộc Gunma-ken [群馬縣]). Tiếp theo ông đã từng sống qua ở một số chùa nổi tiếng như Vạn Thọ (萬壽), Kiến Nhân (建仁), Đẳng Trì (等持), Kiến Trường (建長), Long Trạch (龍澤), Sùng Phước (崇福). Đến cuối đời, ông lui về ẩn cư tại Long Hưng Tự (龍興寺) thuộc vùng Cận Giang (近江, Ōmi, Shiga-ken [滋賀縣]). Vào ngày mồng 8 tháng giêng năm đầu niên hiệu Vĩnh Hòa (永和), ông thị tịch, hưởng thọ 76 tuổi. Ông được ban thụy hiệu là Phật Chủng Huệ Tế Thiền Sư. Trước tác của ông ngoài bộ Ngữ Lục ra còn có Đông Hải Nhất Âu Tập (東海一漚集).
DO NXB LIÊN PHẬT HỘI PHÁT HÀNH
Mua sách qua Amazon sẽ được gửi đến tận nhà - trên toàn nước Mỹ, Canada, Âu châu và Úc châu.
Quý vị đang truy cập từ IP 216.73.216.125 và chưa ghi danh hoặc đăng nhập trên máy tính này. Nếu là thành viên, quý vị chỉ cần đăng nhập một lần duy nhất trên thiết bị truy cập, bằng email và mật khẩu đã chọn.
Chúng tôi khuyến khích việc ghi danh thành viên ,để thuận tiện trong việc chia sẻ thông tin, chia sẻ kinh nghiệm sống giữa các thành viên, đồng thời quý vị cũng sẽ nhận được sự hỗ trợ kỹ thuật từ Ban Quản Trị trong quá trình sử dụng website này.
Việc ghi danh là hoàn toàn miễn phí và tự nguyện.
Ghi danh hoặc đăng nhập