Ta như thầy thuốc, biết bệnh cho thuốc. Người bệnh chịu uống thuốc ấy hay không, chẳng phải lỗi thầy thuốc. Lại cũng như người khéo chỉ đường, chỉ cho mọi người con đường tốt. Nghe rồi mà chẳng đi theo, thật chẳng phải lỗi người chỉ đường.Kinh Lời dạy cuối cùng
Hãy đạt đến thành công bằng vào việc phụng sự người khác, không phải dựa vào phí tổn mà người khác phải trả.
(Earn your success based on service to others, not at the expense of others.)H. Jackson Brown, Jr.
Con tôi, tài sản tôi; người ngu sinh ưu não. Tự ta ta không có, con đâu tài sản đâu?Kinh Pháp Cú (Kệ số 62)
Rời bỏ uế trược, khéo nghiêm trì giới luật, sống khắc kỷ và chân thật, người như thế mới xứng đáng mặc áo cà-sa.Kinh Pháp cú (Kệ số 10)
Xưa, vị lai, và nay, đâu có sự kiện này: Người hoàn toàn bị chê,người trọn vẹn được khen.Kinh Pháp cú (Kệ số 228)
Nghệ thuật sống chân chính là ý thức được giá trị quý báu của đời sống trong từng khoảnh khắc tươi đẹp của cuộc đời.Tủ sách Rộng Mở Tâm Hồn
Hầu hết mọi người đều cho rằng sự thông minh tạo nên một nhà khoa học lớn. Nhưng họ đã lầm, chính nhân cách mới làm nên điều đó.
(Most people say that it is the intellect which makes a great scientist. They are wrong: it is character.)Albert Einstein
Kẻ hung dữ hại người cũng như ngửa mặt lên trời mà phun nước bọt. Nước bọt ấy chẳng lên đến trời, lại rơi xuống chính mình.Kinh Bốn mươi hai chương
Để có thể hành động tích cực, chúng ta cần phát triển một quan điểm tích cực. (In order to carry a positive action we must develop here a positive vision.)Đức Đạt-lai Lạt-ma XIV
Bạn có thể trì hoãn, nhưng thời gian thì không. (You may delay, but time will not.)Benjamin Franklin
Chưa từng có ai trở nên nghèo khó vì cho đi những gì mình có. (No-one has ever become poor by giving.)Anne Frank
Từ điển Phật học Tinh tuyển »» Đang xem mục từ: Thập Can
KẾT QUẢ TRA TỪ
Thập Can:
(十干): Mười Can, còn gọi là Thiên Can (天干), là 10 yếu tố được giải thích theo thứ tự cách đọc âm của tiếng Nhật, Trung Quốc, Triều Tiên, thuộc Ngũ Hành (五行), Ngũ Phương (五方), âm dương, gồm: (1) Giáp (甲, kō, jiǎ, gap, Mộc [木], đông, dương); (2) Ất (乙, otsu, yǐ, eul, Mộc, đông, âm); (3) Bính (丙, hei, bǐng, byeong, Hỏa [火], nam, dương); (4) Đinh (丁, tei, dīng, jeong, Hỏa, nam, âm); (5) Mậu (戊, bo, wù, mu, Thổ [土], trung ương, dương); (6) Kỷ (己, ki, jǐ, gi, Thổ, trung ương, âm); (7) Canh (庚, kō, gēng, gyeong, Kim [金], tây, dương); (8) Tân (辛, shin, xīn, sin, Kim, tây, âm); (9) Nhâm (壬, jin, rén, im, Thủy [水], bắc, dương); (10) Quý (癸, ki, guǐ, gye, Thủy, bắc, âm). Trong 10 Can này, Giáp-Kỷ, Ất-Canh, Bính-Tân, Đinh-Nhâm, Mậu-Quý tạo thành 5 nhóm, giữa hai Can ấy có mối quan hệ rất mật thiết với nhau. Khi hai Can này gặp nhau thì tạo thành nhất thể, được gọi là Can Hợp (干合). Từ mối quan hệ này quyết định vị trí của Đức Thần (德神, tức Tuế Đức Thần [歳德神]). Tự bản thân của những Can thuộc về dương là Đức Thần, riêng những Can thuộc về âm, là Can Hợp mới trở thành Đức Thần. Vào thời nhà Ân (殷, khoảng 1600-1046 tcn), người ta cho rằng có tồn tại 10 mặt trời, mỗi ngày thay nhau mọc, tuần hoàn trong 10 ngày và tương truyền 10 Can được đặt tên theo các mặt trời ấy. Mặt trời tuần hoàn trong 10 ngày được gọi là tuần (旬); các danh từ Thượng Tuần (上旬), Trung Tuần (中旬) và Hạ Tuần (下旬) cũng phát xuất từ đây. Thiên Can kết hợp với Địa Chi (地支, tức Thập Nhị Chi [十二支, Mười Hai Chi]), gồm Tý (子), Sửu (丑), Dần (寅), Mão (卯), Thìn (辰), Tỵ (巳), Ngọ (午), Mùi (未), Thân (申), Dậu (酉), Tuất (戌), Hợi (亥), được gọi là Can Chi (干支), được dùng để biểu thị lịch pháp, v.v. Cứ hai yếu tố Can thuộc một yếu tố của Ngũ Hành và tương đương với âm hay dương. Tại Nhật Bản, dương (陽) được xem là huynh (兄, anh), âm (陰) là đệ (弟, em); tỷ dụ như Giáp là “ki-no-e (木の兄, mộc huynh)”, Ất là “ki-no-to (木の弟, mộc đệ)”. Cách đọc chữ Can Chi (干支) là “eto (えと)” cũng phát xuất từ cách đọc “eto (えと)” của từ “huynh đệ (兄弟)”. Chư vị Thánh nhân cũng như các nhà thiên văn học Trung Quốc quan sát cho biết rằng Can Giáp tượng trưng cho khí trời mát mẻ, cây cỏ tươi tốt; Ất là khí trời ấm áp, chim chóc, sâu bọ nhảy hót; Bính là ánh mặt trời chiếu khắp, thường có ánh Thái Dương; Đinh là ánh nắng chói chan, gió nóng bức, cảm giác tỏa nóng; Mậu là vật đến cùng cực thì phản ứng lại, chuyển sang quá độ; Kỷ là khí nóng tăng dần, khí lưu chẳng ổn định; Canh là khí trời chuyển mát, dễ sanh gió và sương mù; Tân là khí trời trở lạnh, dễ đọng mưa móc; Nhâm là trời lên lạnh ngắt, nước tràn sông hồ; Quý là khí trời âm hàn, ẩm thấp, tối tăm.
Để giới hạn kết quả tìm kiếm chính xác hơn, quý vị có thể nhập 2 hoặc 3 chữ cái đầu vần. Ví dụ, để tìm những chữ như thiền, thiện... quý vị nên nhập thi thay vì t... sẽ cho một kết quả gần với yêu cầu của quý vị hơn.
_______________
MUA THỈNH KINH SÁCH PHẬT HỌC
DO NXB LIÊN PHẬT HỘI PHÁT HÀNH
Dưới cội Bồ-đề
Giảng giải Cảm ứng thiên - Tập 2
Tôi đọc Đại Tạng Kinh
Quy Sơn cảnh sách văn
Mua sách qua Amazon sẽ được gửi đến tận nhà - trên toàn nước Mỹ, Canada, Âu châu và Úc châu.
Chú ý: Việc đăng nhập thường chỉ thực hiện một lần...
Quý vị đang truy cập từ IP 216.73.216.34 và chưa ghi danh hoặc đăng nhập trên máy tính này. Nếu là thành viên, quý vị chỉ cần đăng nhập một lần duy nhất trên thiết bị truy cập, bằng email và mật khẩu đã chọn.
Chúng tôi khuyến khích việc ghi danh thành viên ,để thuận tiện trong việc chia sẻ thông tin, chia sẻ kinh nghiệm sống giữa các thành viên, đồng thời quý vị cũng sẽ nhận được sự hỗ trợ kỹ thuật từ Ban Quản Trị trong quá trình sử dụng website này. Việc ghi danh là hoàn toàn miễn phí và tự nguyện.
Ghi danh hoặc đăng nhập
Thành viên đang online: Viên Hiếu Thành Huệ Lộc 1959 Bữu Phước Chúc Huy Minh Pháp Tự minh hung thich Diệu Âm Phúc Thành Phan Huy Triều Phạm Thiên Trương Quang Quý Johny Dinhvinh1964 Pascal Bui Vạn Phúc Giác Quý Trần Thị Huyền Chanhniem Forever NGUYỄN TRỌNG TÀI KỲ Dương Ngọc Cường Mr. Device Tri Huynh Thích Nguyên Mạnh Thích Quảng Ba T TH Tam Thien Tam Nguyễn Sĩ Long caokiem hoangquycong Lãn Tử Ton That Nguyen ngtieudao Lê Quốc Việt Du Miên Quang-Tu Vu phamthanh210 An Khang 63 zeus7777 Trương Ngọc Trân Diệu Tiến ... ...