Mỗi cơn giận luôn có một nguyên nhân, nhưng rất hiếm khi đó là nguyên nhân chính đáng. (Anger is never without a reason, but seldom with a good one.)Benjamin Franklin
Sống trong đời cũng giống như việc đi xe đạp. Để giữ được thăng bằng bạn phải luôn đi tới. (Life is like riding a bicycle. To keep your balance you must keep moving. )Albert Einstein
Hạnh phúc đích thực không quá đắt, nhưng chúng ta phải trả giá quá nhiều cho những thứ ta lầm tưởng là hạnh phúc. (Real happiness is cheap enough, yet how dearly we pay for its counterfeit.)Hosea Ballou
Đừng làm một tù nhân của quá khứ, hãy trở thành người kiến tạo tương lai. (Stop being a prisoner of your past. Become the architect of your future. )Robin Sharma
Chỉ có một hạnh phúc duy nhất trong cuộc đời này là yêu thương và được yêu thương. (There is only one happiness in this life, to love and be loved.)George Sand
Thành công là tìm được sự hài lòng trong việc cho đi nhiều hơn những gì bạn nhận được. (Success is finding satisfaction in giving a little more than you take.)Christopher Reeve
Ðêm dài cho kẻ thức, đường dài cho kẻ mệt, luân hồi dài, kẻ ngu, không biết chơn diệu pháp.Kinh Pháp cú (Kệ số 60)
Mạng sống quý giá này có thể chấm dứt bất kỳ lúc nào, nhưng điều kỳ lạ là hầu hết chúng ta đều không thường xuyên nhớ đến điều đó!Tủ sách Rộng Mở Tâm Hồn
Vui thay, chúng ta sống, Không hận, giữa hận thù! Giữa những người thù hận, Ta sống, không hận thù!Kinh Pháp Cú (Kệ số 197)
Ví như người mù sờ voi, tuy họ mô tả đúng thật như chỗ sờ biết, nhưng ta thật không thể nhờ đó mà biết rõ hình thể con voi.Kinh Đại Bát Niết-bàn
Dầu mưa bằng tiền vàng, Các dục khó thỏa mãn. Dục đắng nhiều ngọt ít, Biết vậy là bậc trí.Kinh Pháp cú (Kệ số 186)
Trang chủ »» Danh mục »» Từ điển Phật học Tinh tuyển »» Đang xem mục từ: Nam Dương Hòa Thượng Vấn Đáp Tạp Chưng Nghĩa »»

(頓悟入道要門論, Tongonyōdōyōmonron): 2 quyển, còn gọi là Đốn Ngộ Yếu Môn (頓悟要門, Tongoyōmon), do Đại Châu Huệ Hải (大珠慧海) soạn, được san hành vào năm thứ 2 (1369) niên hiệu Hồng Võ (洪武). Quyển thượng là Đốn Ngộ Nhập Đạo Yếu Môn Luận (頓悟入道要門論), quyển hạ là Chư Phương Môn Nhân Tham Vấn Ngữ Lục (諸方門人參問語錄); cả hai được gọi là Đốn Ngộ Yếu Môn hay Đại Châu Thiền Sư Ngữ Lục (大珠禪師語錄). Đây là tác phẩm nhấn mạnh tư tưởng đốn ngộ của Nam Tông Thiền do Lục Tổ Huệ Năng (慧能) khởi xướng. Vào năm thứ 2 (1369) niên hiệu Hồng Võ, Diệu Diệp (妙叶) phát hiện trong hòm sách chỉ có quyển thượng mà thôi, rồi kết hợp biên tập các ngữ cú của Huệ Hải được thâu lục trong quyển 6 và 18 của Cảnh Đức Truyền Đăng Lục (景德傳燈錄) để làm thành quyển hạ, thêm vào phụ lục và phần An Tâm Pháp Môn (安心法門) của Đạt Ma (達磨) và hình thành nên bản san hành thời nhà Minh. Hiện tại, nếu suy định từ nội dung tả bản của quyển thượng được tàng trữ tại Kim Trạch Văn Khố (金澤文庫, Kanazawa-bunko), hình như bản này được san hành dưới thời nhà Tống. Bản do Diệu Diệp phát hiện cũng không rõ là san bản hay tả bản. Sách chú thích về tác phẩm này có bản ấn hành của Nham Ba Văn Khố (岩波文庫, Iwanami-bunko) do Vũ Tỉnh Bá Thọ (宇井伯壽, Ui Hakuju) trước tác. Tuy nhiên, về bản Đốn Ngộ Nhập Đạo Yếu Môn Luận này, có nhiều ký thuật song song giống với bản Nam Dương Hòa Thượng Vấn Đáp Tạp Chưng Nghĩa (南陽和尚問答雜徴義, Nanyōoshōmondōzacchōgi), và sự thành lập của nó cũng có rất nhiều vấn đề.
(胡適, Koseki, 1891-1962): xuất thân Tích Khê (績溪, thuộc Tỉnh An Huy), tự là Thích Chi (適之). Năm 1910, ông sang du học tại Đại Học Columbia, Hoa Kỳ. Sau khi trở về nước, ông làm giáo sư Đại Học Bắc Kinh và nhấn mạnh về tính cần thiết của văn học Bạch Thoại. Trong thời gian 1938-1942, ông làm Đại Sứ Trung Hoa tại Mỹ. Vào năm 1948, sau Đệ Nhị Thế Chiến, trước cuộc nội loạn của Đảng Quốc Dân và Đảng Cộng Sản, ông lưu vong sang Hoa Kỳ; sau đó, ông trở về Đài Loan, làm Viện Trưởng Viện Nghiên Cứu Trung Ương, v.v., và cuối cùng qua đời tại đây. Ông có để lại một số trước tác như Trung Quốc Triết Học Sử Đại Cương (中國哲學史大綱, năm 1919), Bạch Thoại Văn Học Sử (白話文學史, năm 1928), v.v. Từ khoảng năm 1925 trở đi, ông bắt đầu phát biểu luận văn liên quan đến Thiền và nghiên cứu về Thiền của ông vẫn tiếp tục kéo dài cho đến cuối đời ông như chúng ta thấy qua bản di cảo Bạt Bùi Hưu Đích Đường Cố Khuê Phong Định Tuệ Thiền Sư Truyền Pháp Bi (跋裴休的唐故圭峰定慧禪師傳法碑), được san hành sau khi ông quá vãng. Đặc biệt, vào năm 1926, ông tiến hành điều tra các văn thư Đôn Hoàng tại Thư Viện Quốc Gia Paris, Thư Viện Anh Quốc London, phát hiện ra bản di văn có liên quan đến Hà Trạch Thần Hội (荷澤神會) về bản Nam Dương Hòa Thượng Vấn Đáp Tạp Chưng Nghĩa (南陽和尚問答雑徴義) và trở thành nổi tiếng khi cho xuất bản tác phẩm Thần Hội Hòa Thượng Di Tập (神會和尚遺集). Ngoài ra, ông đã cùng với học giả Linh Mộc Đại Chuyết (鈴木大拙, Suzuki Daisetsu, 1870-1966) của Nhật Bản luận tranh về Thiền trong Hội Nghị Đông Tây Triết Học Gia lần thứ 2 được tổ chức tại Đại Học Hawaii vào năm 1949.
DO NXB LIÊN PHẬT HỘI PHÁT HÀNH
Mua sách qua Amazon sẽ được gửi đến tận nhà - trên toàn nước Mỹ, Canada, Âu châu và Úc châu.
Quý vị đang truy cập từ IP 216.73.216.29 và chưa ghi danh hoặc đăng nhập trên máy tính này. Nếu là thành viên, quý vị chỉ cần đăng nhập một lần duy nhất trên thiết bị truy cập, bằng email và mật khẩu đã chọn.
Chúng tôi khuyến khích việc ghi danh thành viên ,để thuận tiện trong việc chia sẻ thông tin, chia sẻ kinh nghiệm sống giữa các thành viên, đồng thời quý vị cũng sẽ nhận được sự hỗ trợ kỹ thuật từ Ban Quản Trị trong quá trình sử dụng website này.
Việc ghi danh là hoàn toàn miễn phí và tự nguyện.
Ghi danh hoặc đăng nhập