Trời sinh voi sinh cỏ, nhưng cỏ không mọc trước miệng voi. (God gives every bird a worm, but he does not throw it into the nest. )Ngạn ngữ Thụy Điển
Tôn giáo của tôi rất đơn giản, đó chính là lòng tốt.Đức Đạt-lai Lạt-ma XIV
Khó thay được làm người, khó thay được sống còn. Khó thay nghe diệu pháp, khó thay Phật ra đời!Kinh Pháp Cú (Kệ số 182)
Những khách hàng khó tính nhất là người dạy cho bạn nhiều điều nhất. (Your most unhappy customers are your greatest source of learning.)Bill Gates
Hãy dang tay ra để thay đổi nhưng nhớ đừng làm vuột mất các giá trị mà bạn có.Đức Đạt-lai Lạt-ma XIV
Niềm vui cao cả nhất là niềm vui của sự học hỏi. (The noblest pleasure is the joy of understanding.)Leonardo da Vinci
Thành công không được quyết định bởi sự thông minh tài giỏi, mà chính là ở khả năng vượt qua chướng ngại.Sưu tầm
Trời không giúp những ai không tự giúp mình. (Heaven never helps the man who will not act. )Sophocles
Hạnh phúc chân thật là sự yên vui, thanh thản mà mỗi chúng ta có thể đạt đến bất chấp những khó khăn hay nghịch cảnh. Tủ sách Rộng Mở Tâm Hồn
Người khôn ngoan học được nhiều hơn từ một câu hỏi ngốc nghếch so với những gì kẻ ngốc nghếch học được từ một câu trả lời khôn ngoan. (A wise man can learn more from a foolish question than a fool can learn from a wise answer.)Bruce Lee
Trang chủ »» Danh mục »» Từ điển Phật học Tinh tuyển »» Đang xem mục từ: Di luân »»
(和光同塵): vốn xuất xứ từ lời dạy của Lão Tử trong Đạo Đức Kinh (道德經) rằng: “Hòa kỳ quang, đồng kỳ trần (和其光、同其塵, hòa với ánh sáng ấy, đồng với bụi trần ấy)”; nghĩa là cùng với trần tục hợp lại với nhau, nhưng không tự lập dị. Theo Phật Giáo, từ này chỉ cho chư Phật, Bồ Tát vì cứu độ chúng sanh mà ẩn tàng ánh sáng trí tuệ, lấy phương tiện quyền giả của Ứng Hóa Thân (應化身) mà sanh ra nơi cõi trần thế đầy rẫy phiền não, khổ đau; cùng kết duyên với chúng sanh, dần dần dẫn dắt họ đến với Phật pháp, nhưng vẫn siêu trần thoát tục; như trường hợp Phổ Môn Thị Hiện của Bồ Tát Quan Âm (s: Avalokiteśvara, 觀音), v.v. Như trong Ma Ha Chỉ Quán (摩訶止觀, Taishō Vol. 46, No. 1911) quyển 6 có dạy rằng: “Hòa quang đồng trần, kết duyên chi thỉ; Bát Tướng Thành Đạo, dĩ luận kỳ chung (和光同塵、結緣之始、八相成道、以論其終, hòa quang đồng trần, ban đầu kết duyên; Tám Tướng Thành Đạo, để luận chung cuộc).” Tuy nhiên, Đại Bát Niết Bàn Kinh (大般涅槃經, Taishō Vol. 12, No. 375) quyển 6 lại đưa ra thuyết “hòa quang bất đồng trần (和光不同塵)” với ý nghĩa rằng chư Phật, Bồ Tát vì muốn đạt mục đích cứu độ chúng sanh nên cùng hòa hợp với chúng sanh nơi cõi trần thế, nhưng không bị ô nhiễm. Cho nên, Duy Ma Kinh Lược Sớ Thùy Dụ Ký (維摩經略疏垂裕記, Taishō Vol. 38, No. 1779) quyển 5 có dạy rằng: “Hòa quang bất đồng kỳ trần giả phương tiện hiện tật, cố viết hòa quang; nội vô hoặc nghiệp, cố bất đồng trần (和光不同其塵者方便現疾、故曰和光、內無惑業、故不同塵, hòa cùng ánh sáng mà chẳng đồng với bụi trần ấy, phương tiện hiện ra tật bệnh, nên gọi là hòa quang; trong không có nghiệp mê hoặc, nên không đồng trần).” Trong Quy Sơn Cảnh Sách Chú (溈山警策註, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 63, No. 1239) lại có câu rằng: “Ẩn mai kỳ tích nhi hòa quang đồng trần, thao tàng hư danh nhi khử hoa vụ thật (隱晦其跡而和光同塵、韜藏虛名而去華務實, mai danh ẩn tích mà hòa quang đồng trần, giấu kín hư danh mà bỏ hoa lấy quả).” Hay trong Phạm Võng Kinh Trực Giải (梵網經直解, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 38, No. 697) cũng có đoạn rằng: “Chư Phật Bồ Tát, giáo hóa chúng sanh, tất nhiên ẩn Thánh hiện liệt, hòa quang đồng trần, dĩ đồng chúng sanh thân tướng sự nghiệp, như ảnh tùy hình, cửu hóa phương quy, sử kỳ giải thoát; thị cố giả thọ Tứ Đại huyễn thân, giả thọ Ngũ Uẩn hình mạng, nhi nhập lợi ích Tam Muội (諸佛菩薩、敎化眾生、必然隱聖現劣、和光同塵、以同眾生身相事業、如影隨形、久化方皈、使其解脫、是故假受四大幻身、假受五蘊形命、而入利益三昧, chư Phật Bồ Tát, giáo hóa chúng sanh, tất nhiên giấu sự Thánh thiện mà hiện ra sự yếu kém, hòa quang đồng trần, để cùng với thân tướng sự nghiệp của chúng sanh, như bóng theo hình, hóa độ lâu mới quy phục; cho nên mới giả thọ thân huyễn Bốn Đại, giả thọ hình hài Năm Uẩn, mà nhập vào lợi ích Tam Muội).”
(皇度): chỉ về phẩm đức và sự độ lượng của Hoàng đế. Như trong bài Tấn Võ Hoa Lâm Viên Tập Thi (晉武華林園集詩) của Ứng Trinh (應貞, ?-269) của nhà Tấn có câu: “Khôi khôi Hoàng độ, mục mục Thánh dung (恢恢皇度、穆穆聖容, rộng lớn đức vua, sâu thẳm vẻ Thánh).” Hay trong bài Chánh Đán Đại Hội Hành Lễ Ca (正旦大會行禮歌) của Tuân Húc (荀勗, ?-289) nhà Tấn cũng có câu: “Tư ngã Hoàng độ, Di luân du tự (思我皇度、彝倫攸序, nhớ đức vua ta, luân thường trật tự).” Hoặc như trong bài Nguyên Hội Đại Hưởng Ca (元會大饗歌), phần Hoàng Hạ (皇夏) của Ngưu Hoằng (牛弘, 545-610) nhà Tùy có đoạn rằng: “Thâm tai Hoàng độ, túy hỉ thiên nghi (深哉皇度、粹矣天儀, sâu thẳm thay đức vua, thuần túy thay nghi Trời).” Trong Lô Sơn Liên Tông Bảo Giám (廬山蓮宗寶鑑, Taishō Vol. 47, No. 1973) quyển 10 có đoạn: “Phát dương tiên giác chi vi ngôn, vĩnh vi hậu nhân chi minh giám, thượng dĩ âm dực hoàng độ, hạ dĩ hóa lợi sanh dân, khả vị tận thiện tận mỹ nhi dĩ (發揚先覺之微言、永爲後人之明鑑、上以陰翊皇度、下以化利生民、可謂盡善盡美而已, phát huy lời dạy của đấng giác ngộ trước, mãi là gương sáng soi cho kẻ đời sau, trên để âm thầm giúp đỡ đức vua, dưới để làm lợi lạc muôn dân, mới có thể gọi là tốt đến tận cùng, đẹp đến tận cùng mới thôi).”
(佛祖歷代通載, Bussorekidaitsūsai): còn gọi là Phật Tổ Thông Tải (佛祖通載, Bussotsūsai), Thông Tải (通載, Tsūsai), 22 quyển, do Mai Ốc Niệm Thường (梅屋念常) nhà Nguyên biên tập, san hành vào năm thứ 4 (1576) niên hiệu Vạn Lịch (萬曆). Niệm Thường ở Đại Trung Tường Tự (大中祥寺), Gia Hưng (嘉興, Tỉnh Triết Giang), theo niên kỷ các đời vua từ thời 7 vị Phật ở quá khứ cho đến năm đầu (1333) niên hiệu Nguyên Thống (元統) nhà Nguyên, ghi lại dưới hình thức biên niên các sự tích của Phật Giáo cũng như truyền ký của chư vị cao tăng để hình thành nên tác phẩm lớn này. Trải qua những điển tịch nội ngoại, có dẫn chứng uyên bác, bộ này đã làm sáng tỏ các điển cứ cố sự và đính chính những dị luận. Bản này có lời tựa của Vi Tiếu Am Đạo Nhân Ngu Tập (微笑庵道人虞集) ghi năm đầu (1341) niên hiệu Chí Chánh (至正) và lời tựa của Giác Ngạn (覺岸) vào năm thứ 4 (1344) cùng niên hiệu trên.
(黙照禪): đương thời có từ gọi là Mặc Chiếu Tà Sư (黙照邪師) hay Mặc Chiếu Tà Thiền (黙照邪禪) mà Đại Huệ Tông Cảo (大慧宗杲) dùng để phê phán khuynh hướng đang hiện hành trong Thiền Tông. Đây chính là ngôn từ nhằm phê phán những người không nhắm mục đích giác ngộ mà chỉ chuyên im lặng ngồi Thiền, và vì trước tác của Hoằng Trí Chánh Giác (宏智正覺), tức cuốn Mặc Chiếu Minh (黙照銘), nên đối tượng phê phán của Đại Huệ hẳn nhiên là những người thuộc Phái Hoằng Trí. Tuy nhiên, giữa Đại Huệ và Hoằng Trí vốn có mối thâm giao, cho nên đối tượng phê phán không phải là trực tiếp Hoằng Trí mà là các huynh đệ đệ tử của ông như nhóm Chơn Hiết Thanh Liễu (眞歇清了). Có điều dầu sao đi nữa, sự phê phán này rõ ràng là tiền đề nói lên sự khác nhau giữa Thiền phong của Lâm Tế và Tào Động. Vẫn có ít nhiều dị luận, song chúng ta cũng khó phủ định được rằng chính Thiền của Đạo Nguyên (道元) bên Nhật Bản vốn chủ trương "chỉ quản đả tọa" (只管打坐, Shikantaza) đã nối tiếp hệ thống của Thiền Mặc Chiếu này. Nếu từ ý nghĩa ấy mà xét, chúng ta có thể nói rằng đó là nguyên nhân vì sao Đạo Nguyên đã phê phán kịch liệt Đại Huệ.
DO NXB LIÊN PHẬT HỘI PHÁT HÀNH
Mua sách qua Amazon sẽ được gửi đến tận nhà - trên toàn nước Mỹ, Canada, Âu châu và Úc châu.
Quý vị đang truy cập từ IP 216.73.216.125 và chưa ghi danh hoặc đăng nhập trên máy tính này. Nếu là thành viên, quý vị chỉ cần đăng nhập một lần duy nhất trên thiết bị truy cập, bằng email và mật khẩu đã chọn.
Chúng tôi khuyến khích việc ghi danh thành viên ,để thuận tiện trong việc chia sẻ thông tin, chia sẻ kinh nghiệm sống giữa các thành viên, đồng thời quý vị cũng sẽ nhận được sự hỗ trợ kỹ thuật từ Ban Quản Trị trong quá trình sử dụng website này.
Việc ghi danh là hoàn toàn miễn phí và tự nguyện.
Ghi danh hoặc đăng nhập