Ngay cả khi ta không tin có thế giới nào khác, không có sự tưởng thưởng hay trừng phạt trong tương lai đối với những hành động tốt hoặc xấu, ta vẫn có thể sống hạnh phúc bằng cách không để mình rơi vào sự thù hận, ác ý và lo lắng. (Even if (one believes) there is no other world, no future reward for good actions or punishment for evil ones, still in this very life one can live happily, by keeping oneself free from hatred, ill will, and anxiety.)Lời Phật dạy (Kinh Kesamutti)
Những ai có được hạnh phúc cũng sẽ làm cho người khác được hạnh phúc. (Whoever is happy will make others happy too.)Anne Frank
Chớ khinh thường việc ác nhỏ mà làm; đốm lửa nhỏ có thể thiêu cháy cả núi rừng làng mạc. Chớ chê bỏ việc thiện nhỏ mà không làm, như giọt nước nhỏ lâu ngày cũng làm đầy chum vại lớn.Lời Phật dạy
Nếu bạn nghĩ mình làm được, bạn sẽ làm được. Nhưng nếu bạn nghĩ mình không làm được thì điều đó cũng sẽ trở thành sự thật. (If you think you can, you can. And if you think you can't, you're right.)Mary Kay Ash
Muôn việc thiện chưa đủ, một việc ác đã quá thừa.Tủ sách Rộng Mở Tâm Hồn
Nhà lợp không kín ắt bị mưa dột. Tâm không thường tu tập ắt bị tham dục xâm chiếm.Kinh Pháp cú (Kệ số 13)
Người khôn ngoan học được nhiều hơn từ một câu hỏi ngốc nghếch so với những gì kẻ ngốc nghếch học được từ một câu trả lời khôn ngoan. (A wise man can learn more from a foolish question than a fool can learn from a wise answer.)Bruce Lee
Bạn đã từng cố gắng và đã từng thất bại. Điều đó không quan trọng. Hãy tiếp tục cố gắng, tiếp tục thất bại, nhưng hãy thất bại theo cách tốt hơn. (Ever tried. Ever failed. No matter. Try Again. Fail again. Fail better.)Samuel Beckett
Hào phóng đúng nghĩa với tương lai chính là cống hiến tất cả cho hiện tại. (Real generosity toward the future lies in giving all to the present.)Albert Camus
Cỏ làm hại ruộng vườn, tham làm hại người đời. Bố thí người ly tham, do vậy được quả lớn.Kinh Pháp Cú (Kệ số 356)
Người tốt không cần đến luật pháp để buộc họ làm điều tốt, nhưng kẻ xấu thì luôn muốn tìm cách né tránh pháp luật. (Good people do not need laws to tell them to act responsibly, while bad people will find a way around the laws.)Plato
Trang chủ »» Danh mục »» Từ điển Phật học Tinh tuyển »» Đang xem mục từ: Bạch chử »»

(金精): có nhiều nghĩa khác nhau.
(1) Chỉ cho khí ở phương Tây, như trong Văn Tuyển (文選), phần Di Hành (彌衡) có câu: “Thể Kim Tinh chi diệu chất hề, hợp Hỏa Đức chi minh huy (體金精之妙質兮、合火德之明輝, thể Kim Tinh là chất mầu chừ, cùng với ánh sáng của Hỏa Đức).” Lý Thiện (李善) chú rằng: “Tây phương vi Kim, mao hữu bạch giả, cố viết Kim Tinh (西方爲金、毛有白者、故曰金精, phương Tây là Kim, lông có màu trắng, nên gọi là Kim Tinh).”
(2) Chỉ nước Tần, như trong bài Cao Tổ Tứ Thủy Đình Bi Minh (高祖泗水亭碑銘) của Ban Cố (班固, 32-92) nhà Hán, có câu: “Dương uy trảm xà, Kim Tinh tồi thương (揚威斬蛇、金精摧傷, dương oai chém rắn, nước Tần hết thương).”
(3) Chỉ cho sao Thái Bạch (太白), như trong bài Ai Giang Nam Phú (哀江南賦) của Dữu Tín (庾信, 513-581) thời Bắc Chu có câu: “Địa tắc thạch cổ sơn minh, thiên tắc Kim Tinh động tú (地則石鼓山鳴、天則金精動宿, đất ắt trống đá núi vang, trời tất Thái Bạch chuyển sao).”
(4) Tên một loại thuốc tiên trong truyền thuyết của Đạo Giáo, như trong bài thơ Nhập Cổ Lãi Kinh Tùng Môn Quán Thạch Kính Miến Hoài Tạ Khang Lạc (入彭蠡經松門觀石鏡緬懷謝康樂) của Lý Bạch (李白, 701-762) nhà Đường có câu: “Thủy Bích hoặc khả thái, Kim Tinh bí mạc luận (水碧或可采、金精秘莫論, Ngọc Bích còn lấy được, Kim Tinh chớ luận bàn).”
(5) Chỉ mặt trăng (nghĩa trong bài), như trong Sơ Học Ký (初學記) có dẫn phần Hà Đồ Đế Lãm Hi (河圖帝覽嬉) câu: “Nguyệt giả, Kim chi tinh dã (月者、金之精也, mặt trăng là Kim Tinh).” Hay như trong Lữ Bạc Đồ Giang (旅泊塗江) của Trần Đào (陳陶, khoảng 812-885) cũng có câu: “Đoạn sa nhạn khởi Kim Tinh xuất, cô lãnh viên sầu mộc khách quy (斷沙雁起金精出、孤嶺猿愁木客歸, cát sụt nhạn biến mặt trăng hiện, đỉnh non vượn sầu dã nhân về).”
(6) Tên gọi khác của Cam Cúc (甘菊, tức Thu Cúc), như trong (小園賦) của Dữu Tín thời Bắc Chu có câu: “Vân khí ấm vu tùng thi, Kim Tinh dưỡng vu Thu Cúc (雲氣蔭于叢蓍、金精養于秋菊, khí mây che rợp bụi lá, Kim Tinh dưỡng nơi Thu Cúc).” Nghê Phan (倪璠, ?-?) nhà Thanh chú dẫn trong Ngọc Hàm Phương (玉函方) rằng: “Cam Cúc, cửu nguyệt thượng Dần nhật thái, danh viết Kim Tinh (甘菊、九月上寅日採、名曰金精, Cam Cúc, hái vào ngày Dần đầu tháng 9, tên gọi là Kim Tinh).”
có tên gọi khác như Lạp Nguyệt (臘月), Trừ Nguyệt (除月), Sửu Nguyệt (丑月), Nghiêm Nguyệt (嚴月), Băng Nguyệt (冰月), Dư Nguyệt (餘月), Cực Nguyệt (極月), Đồ Nguyệt (塗月), Địa Chánh Nguyệt (地正月), Nhị Dương Nguyệt (二陽月), Gia Bình Nguyệt (嘉平月), Tam Đông Nguyệt (三冬月), Mai Sơ Nguyệt (梅初月), Xuân Đãi Nguyệt (春待月), Quý Đông (季冬), Mộ Đông (暮冬), Vãn Đông (晚冬), Diểu Đông (杪冬), Cùng Đông (窮冬), Hoàng Đông (黃冬), Lạp Đông (臘冬), Tàn Đông (殘冬), Mạt Đông (末冬), Nghiêm Đông (嚴冬), Sư Tẩu (師走), Đại Lữ (大呂), Tinh Hồi Tiết (星回節), Ân Chánh (殷正), Thanh Tự (清祀), Đông Tố (冬素), Xú Nguyệt (醜月), Gia Bình (嘉平), Tuế Diểu (歲杪), Cửu Đông (九冬), Nghiêm Hàn (嚴寒), Tuế Nguyệt (歲月), Mạt Nguyệt (末月). Một số câu hay cho tháng Mười Hai như tiêu thương tiễn lạp (椒觴餞臘, chén rượu tiêu tiễn cuối năm), mai tín truyền Xuân (梅信傳春, tin cây Mai truyền mùa Xuân đến), cẩm diên thủ tuế (錦筵守歲, tiệc gấm đón năm mới), họa các nghênh Xuân (畫閣迎春, gác vẽ tranh hoa lệ đón Xuân), Mai truyền Xuân ý (梅傳春意, cành Mai truyền ý Xuân), tuyết triệu phong niên (雪兆豐年, tuyết có điềm cho biết năm mới phong phú), khúc tấu Lương Viên (曲奏梁園, tấu khúc Lương Viên), Tây sơn tuyết tễ (西山雪霽, núi Tây tuyết tan), Đông các Mai hương (東閣梅香, gác Đông thơm hoa Mai), hàn tùy lạp khứ (寒隨臘去, lạnh theo cuối năm đi), noãn trục Xuân lai (暖逐春來, hơi ấm cùng mùa Xuân đến), Mai ngạc truyền Xuân (梅萼傳春, đài hoa Mai truyền sắc Xuân), tuế trừ kim tịch (歲除今夕, năm hết đêm nay), Xuân nhập tân niên (春入新年, Xuân vào năm mới), pháo thôi tàn lạp (炮催殘臘, pháo thúc giục cuối năm còn sót), Mai báo tảo Xuân (梅報早春, Mai báo Xuân sớm), nhất niên tương tận (一年將盡, một năm sắp hết), tứ quý vân chung (四季雲終, bốn mùa chấm dứt). Một số từ dùng cho truy điệu vào tháng này như tinh hồi nguyệt triển (星回月展, sao lùi trăng hiện), phong thảm vân sầu (風慘雲愁, gió thảm mây buồn), diêm khuynh trường lệ (簷傾長淚, mái nghiêng ngấn lệ), thủy kết đôi băng (水結堆冰, nước kết băng trôi). Một số từ dùng cho tháng Mười Hai nhuận như nhuận dĩ thành tuế (潤以成歲, nhuận đã thành năm), hàn bách chu niên (寒迫周年, lạnh đuổi theo trọn năm).
DO NXB LIÊN PHẬT HỘI PHÁT HÀNH
Mua sách qua Amazon sẽ được gửi đến tận nhà - trên toàn nước Mỹ, Canada, Âu châu và Úc châu.
Quý vị đang truy cập từ IP 216.73.216.34 và chưa ghi danh hoặc đăng nhập trên máy tính này. Nếu là thành viên, quý vị chỉ cần đăng nhập một lần duy nhất trên thiết bị truy cập, bằng email và mật khẩu đã chọn.
Chúng tôi khuyến khích việc ghi danh thành viên ,để thuận tiện trong việc chia sẻ thông tin, chia sẻ kinh nghiệm sống giữa các thành viên, đồng thời quý vị cũng sẽ nhận được sự hỗ trợ kỹ thuật từ Ban Quản Trị trong quá trình sử dụng website này.
Việc ghi danh là hoàn toàn miễn phí và tự nguyện.
Ghi danh hoặc đăng nhập