=> (j: Kegon shū; c: Huayan zong) Một trong những tông chính của Phật giáo Trung Hoa, giáo lý tông nầy có một ảnh hưởng sâu đậm đến mọi quan điểm triết học của Phật giáo Á đông. Được hình thành vào thời kỳ cuối đời nhà Tuỳ và đầu nhà Đường, tông nầy chú trọng vào ý niệm triết học tương dung tương tức mà các vị tổ sáng lập tông nầy đã trực nhận được từ kinh Hoa Nghiêm. Mặc dù hoàn toàn căn cứ vào kinh Hoa Nghiêm, nhưng phần nhiều các thuật ngữ chuyên môn khiến cho tông nầy được phổ biến lại không dựa trên kinh này, mà có trong những luận giải của các vị khai tổ. Sáng lập tông nầy thường được ghi lại gồm năm vị tổ: 1. Đỗ Thuận 杜順 (c: Dushun). 2. Trí Nghiễm 智儼 (c: Zhiyan). 3. Pháp Tạng 法藏 (c: Fazang). 4. Trừng Quán 澄觀 (c: Chengguan). 5. Tông Mật 宗密 (c: Zongmi). Một nhân vật quan trọng khác xiển dương sâu rộng tư tưởng Hoa Nghiêm là cư sĩ học giả Lý Thông Huyền (Li Tongxuan 李通玄). Một số căn nguyên của tông nầy còn như được tiếp truyền từ các vị tổ trước đây nữa như Mã Minh (Aśvaghoṣa 馬鳴), Long Thụ (Nāgārjuna 龍樹). Mặc dù có những khía cạnh về phả hệ truyền thừa đã được sắp đặt rõ ràng trước, khá chính xác để thừa nhận rằng những vị Tổ nầy mỗi người đều đóng một vai trò nổi bật và đặc sắc trong sự phát triển Hoa Nghiêm tông nầy. Đỗ Thuận nổi tiếng là vị đã thiết lập một nền học thuật nghiên cứu kinh Hoa Nghiêm như một lĩnh vực chuyên biệt; Trí Nghiễm được xem là người lập nên giáo lý căn bản cho tông nầy; Pháp Tạng được xem là vị đã hợp lý hoá học thuyết kinh Hoa Nghiêm để được quần chúng công nhận sâu rộng hơn; Trừng Quán và Tông Mật được biết là đã phát triển giáo lý sâu sắc và truyền bá mạnh mẽ hơn. Sau thời của Tông Mật và Lý Thông Huyền, tông Hoa Nghiêm của Trung Hoa nói chung bị đình trệ về mặt phát triển cái mới, cuối cùng trở nên suy thoái. Tông nầy, vốn truyền bá nhờ vào sự hỗ trợ của triều đình, phải chịu đựng sự khắc nghiệt qua cuộc thanh trừng 8415 (?) (Pháp nạn Hội Xương thời Đường Vũ Tông) , tông nầy không phục hồi được sinh lực như xưa nữa. Tuy nhiên, tư tưởng siêu hình học sâu mầu của tông nầy như về Tứ pháp giới (four dharmadhātu 四法界) tương tức tương nhiếp đã coa ảnh hưởng sâu đậm trong sự tồn tại của các tông phái Phật giáo Á đông, đặc biệt là Thiền tông. Ảnh hưởng lâu dài và lớn nhất của tông Hoa Nghiêm có thể được thấy ở Triều Tiên, nơi tông nầy được truyền bá do ngài Nghĩa Tương (k: Ŭisang 義湘), cùng với Pháp Tạng, là môn đệ của ngài Trí Nghiễm. Sau khi Nghĩa Tương trở về Triều Tiên năm 671, ngài tận lực xiển dương tông Hoa Nghiêm trên bán đảo nầy. Trong nỗ lực đó, ngài được hỗ trợ lớn lao bởi uy tín của pháp hữu là Nguyên Hiểu (k: Wŏnhyo 元曉), là người mặc dù không đại diện chính thức cho tông nầy, nhưng đã căn cứ rất sâu sắc vào tư tưởng siêu hình học trong kinh Hoa Nghiêm để lập nên tư tưởng 'Thông Phật giáo通佛教'. Sau khi hai vị nầy viên tịch, tông Hoa Nghiêm trở nên phát triển mạnh mẽ nhờ vào ảnh hưởng của nhiều bậc thầy trong chính tông phái ấy. Tông Hoa Nghiêm duy trì được vị trí tông phái có giáo lý nổi bật ở Triều Tiên mãi cho đến thời kỳ Koryŏ, khi tông nầy được đặt vào vị thế phải hoà nhập với Thiền tông. Trong Thiền tông, tư tưởng Hoa Nghiêm tiếp tục đóng vai trò chủ yếu và kéo dài như vậy cho đến ngày nay. Việc nghiên cứu kinh Hoa Nghiêm được bắt đầu ở Nhật Bản vào năm 736 khi Tăng sĩ học giả Lương Biện (j: Rōben 良辯) (nguyên là một học giả Pháp tướng tông) mời một Tăng sĩ Triều Tiên Là Thẩm Tường (k: Simsang 審祥) giảng thuyết về kinh Hoa Nghiêm tại Kim Chung tự (Konshuji 金鐘寺) Khi việc kiến thiết chùa Đông Đại tự (Tōdaiji 東大寺) đã xong, Lương Biện ở tại chùa nầy chính thức đưa kinh Hoa Nghiêm vào như một lãnh vực nghiên cứu chính của Phật giáo Nhật Bản, và tông Hoa Nghiêm trở nên một trong “Sáu tông phái của Phật giáo Nại Lương”. Tư tưởng Hoa Nghiêm về sau được phổ biến ở Nhật Bản do Minh Huệ (Myōe 明惠), người đã phối hợp giáo lý Hoa Nghiêm với Mật giáo; và ngài Ngưng Nhiên (j: Gyōnen 凝然), người đã có công sáng lập phái Đông Đại Tự thuộc tông Hoa Nghiêm. Sự góp phần quan trọng nhất về mặt triết học của tông Hoa Nghiêm là lãnh vực siêu hình học, như được trình bày qua giáo lý tương dung tương tức của mọi hiện tượng (sự sự vô ngại), một trong tất cả, tất cả trong một. Trang tra cứu Thuật ngữ Phật học từ các nguồn từ điển tổng hợp hiện có, bao gồm từ điển Phật Quang, từ điển Đạo Uyển... do Liên Phật Hội thực hiện."> => (j: Kegon shū; c: Huayan zong) Một trong những tông chính của Phật giáo Trung Hoa, giáo lý tông nầy có một ảnh hưởng sâu đậm đến mọi quan điểm triết học của Phật giáo Á đông. Được hình thành vào thời kỳ cuối đời nhà Tuỳ và đầu nhà Đường, tông nầy chú trọng vào ý niệm triết học tương dung tương tức mà các vị tổ sáng lập tông nầy đã trực nhận được từ kinh Hoa Nghiêm. Mặc dù hoàn toàn căn cứ vào kinh Hoa Nghiêm, nhưng phần nhiều các thuật ngữ chuyên môn khiến cho tông nầy được phổ biến lại không dựa trên kinh này, mà có trong những luận giải của các vị khai tổ. Sáng lập tông nầy thường được ghi lại gồm năm vị tổ: 1. Đỗ Thuận 杜順 (c: Dushun). 2. Trí Nghiễm 智儼 (c: Zhiyan). 3. Pháp Tạng 法藏 (c: Fazang). 4. Trừng Quán 澄觀 (c: Chengguan). 5. Tông Mật 宗密 (c: Zongmi). Một nhân vật quan trọng khác xiển dương sâu rộng tư tưởng Hoa Nghiêm là cư sĩ học giả Lý Thông Huyền (Li Tongxuan 李通玄). Một số căn nguyên của tông nầy còn như được tiếp truyền từ các vị tổ trước đây nữa như Mã Minh (Aśvaghoṣa 馬鳴), Long Thụ (Nāgārjuna 龍樹). Mặc dù có những khía cạnh về phả hệ truyền thừa đã được sắp đặt rõ ràng trước, khá chính xác để thừa nhận rằng những vị Tổ nầy mỗi người đều đóng một vai trò nổi bật và đặc sắc trong sự phát triển Hoa Nghiêm tông nầy. Đỗ Thuận nổi tiếng là vị đã thiết lập một nền học thuật nghiên cứu kinh Hoa Nghiêm như một lĩnh vực chuyên biệt; Trí Nghiễm được xem là người lập nên giáo lý căn bản cho tông nầy; Pháp Tạng được xem là vị đã hợp lý hoá học thuyết kinh Hoa Nghiêm để được quần chúng công nhận sâu rộng hơn; Trừng Quán và Tông Mật được biết là đã phát triển giáo lý sâu sắc và truyền bá mạnh mẽ hơn. Sau thời của Tông Mật và Lý Thông Huyền, tông Hoa Nghiêm của Trung Hoa nói chung bị đình trệ về mặt phát triển cái mới, cuối cùng trở nên suy thoái. Tông nầy, vốn truyền bá nhờ vào sự hỗ trợ của triều đình, phải chịu đựng sự khắc nghiệt qua cuộc thanh trừng 8415 (?) (Pháp nạn Hội Xương thời Đường Vũ Tông) , tông nầy không phục hồi được sinh lực như xưa nữa. Tuy nhiên, tư tưởng siêu hình học sâu mầu của tông nầy như về Tứ pháp giới (four dharmadhātu 四法界) tương tức tương nhiếp đã coa ảnh hưởng sâu đậm trong sự tồn tại của các tông phái Phật giáo Á đông, đặc biệt là Thiền tông. Ảnh hưởng lâu dài và lớn nhất của tông Hoa Nghiêm có thể được thấy ở Triều Tiên, nơi tông nầy được truyền bá do ngài Nghĩa Tương (k: Ŭisang 義湘), cùng với Pháp Tạng, là môn đệ của ngài Trí Nghiễm. Sau khi Nghĩa Tương trở về Triều Tiên năm 671, ngài tận lực xiển dương tông Hoa Nghiêm trên bán đảo nầy. Trong nỗ lực đó, ngài được hỗ trợ lớn lao bởi uy tín của pháp hữu là Nguyên Hiểu (k: Wŏnhyo 元曉), là người mặc dù không đại diện chính thức cho tông nầy, nhưng đã căn cứ rất sâu sắc vào tư tưởng siêu hình học trong kinh Hoa Nghiêm để lập nên tư tưởng 'Thông Phật giáo通佛教'. Sau khi hai vị nầy viên tịch, tông Hoa Nghiêm trở nên phát triển mạnh mẽ nhờ vào ảnh hưởng của nhiều bậc thầy trong chính tông phái ấy. Tông Hoa Nghiêm duy trì được vị trí tông phái có giáo lý nổi bật ở Triều Tiên mãi cho đến thời kỳ Koryŏ, khi tông nầy được đặt vào vị thế phải hoà nhập với Thiền tông. Trong Thiền tông, tư tưởng Hoa Nghiêm tiếp tục đóng vai trò chủ yếu và kéo dài như vậy cho đến ngày nay. Việc nghiên cứu kinh Hoa Nghiêm được bắt đầu ở Nhật Bản vào năm 736 khi Tăng sĩ học giả Lương Biện (j: Rōben 良辯) (nguyên là một học giả Pháp tướng tông) mời một Tăng sĩ Triều Tiên Là Thẩm Tường (k: Simsang 審祥) giảng thuyết về kinh Hoa Nghiêm tại Kim Chung tự (Konshuji 金鐘寺) Khi việc kiến thiết chùa Đông Đại tự (Tōdaiji 東大寺) đã xong, Lương Biện ở tại chùa nầy chính thức đưa kinh Hoa Nghiêm vào như một lãnh vực nghiên cứu chính của Phật giáo Nhật Bản, và tông Hoa Nghiêm trở nên một trong “Sáu tông phái của Phật giáo Nại Lương”. Tư tưởng Hoa Nghiêm về sau được phổ biến ở Nhật Bản do Minh Huệ (Myōe 明惠), người đã phối hợp giáo lý Hoa Nghiêm với Mật giáo; và ngài Ngưng Nhiên (j: Gyōnen 凝然), người đã có công sáng lập phái Đông Đại Tự thuộc tông Hoa Nghiêm. Sự góp phần quan trọng nhất về mặt triết học của tông Hoa Nghiêm là lãnh vực siêu hình học, như được trình bày qua giáo lý tương dung tương tức của mọi hiện tượng (sự sự vô ngại), một trong tất cả, tất cả trong một. Trang tra cứu Thuật ngữ Phật học từ các nguồn từ điển tổng hợp hiện có, bao gồm từ điển Phật Quang, từ điển Đạo Uyển... do Liên Phật Hội thực hiện." /> => (j: Kegon shū; c: Huayan zong) Một trong những tông chính của Phật giáo Trung Hoa, giáo lý tông nầy có một ảnh hưởng sâu đậm đến mọi quan điểm triết học của Phật giáo Á đông. Được hình thành vào thời kỳ cuối đời nhà Tuỳ và đầu nhà Đường, tông nầy chú trọng vào ý niệm triết học tương dung tương tức mà các vị tổ sáng lập tông nầy đã trực nhận được từ kinh Hoa Nghiêm. Mặc dù hoàn toàn căn cứ vào kinh Hoa Nghiêm, nhưng phần nhiều các thuật ngữ chuyên môn khiến cho tông nầy được phổ biến lại không dựa trên kinh này, mà có trong những luận giải của các vị khai tổ. Sáng lập tông nầy thường được ghi lại gồm năm vị tổ: 1. Đỗ Thuận 杜順 (c: Dushun). 2. Trí Nghiễm 智儼 (c: Zhiyan). 3. Pháp Tạng 法藏 (c: Fazang). 4. Trừng Quán 澄觀 (c: Chengguan). 5. Tông Mật 宗密 (c: Zongmi). Một nhân vật quan trọng khác xiển dương sâu rộng tư tưởng Hoa Nghiêm là cư sĩ học giả Lý Thông Huyền (Li Tongxuan 李通玄). Một số căn nguyên của tông nầy còn như được tiếp truyền từ các vị tổ trước đây nữa như Mã Minh (Aśvaghoṣa 馬鳴), Long Thụ (Nāgārjuna 龍樹). Mặc dù có những khía cạnh về phả hệ truyền thừa đã được sắp đặt rõ ràng trước, khá chính xác để thừa nhận rằng những vị Tổ nầy mỗi người đều đóng một vai trò nổi bật và đặc sắc trong sự phát triển Hoa Nghiêm tông nầy. Đỗ Thuận nổi tiếng là vị đã thiết lập một nền học thuật nghiên cứu kinh Hoa Nghiêm như một lĩnh vực chuyên biệt; Trí Nghiễm được xem là người lập nên giáo lý căn bản cho tông nầy; Pháp Tạng được xem là vị đã hợp lý hoá học thuyết kinh Hoa Nghiêm để được quần chúng công nhận sâu rộng hơn; Trừng Quán và Tông Mật được biết là đã phát triển giáo lý sâu sắc và truyền bá mạnh mẽ hơn. Sau thời của Tông Mật và Lý Thông Huyền, tông Hoa Nghiêm của Trung Hoa nói chung bị đình trệ về mặt phát triển cái mới, cuối cùng trở nên suy thoái. Tông nầy, vốn truyền bá nhờ vào sự hỗ trợ của triều đình, phải chịu đựng sự khắc nghiệt qua cuộc thanh trừng 8415 (?) (Pháp nạn Hội Xương thời Đường Vũ Tông) , tông nầy không phục hồi được sinh lực như xưa nữa. Tuy nhiên, tư tưởng siêu hình học sâu mầu của tông nầy như về Tứ pháp giới (four dharmadhātu 四法界) tương tức tương nhiếp đã coa ảnh hưởng sâu đậm trong sự tồn tại của các tông phái Phật giáo Á đông, đặc biệt là Thiền tông. Ảnh hưởng lâu dài và lớn nhất của tông Hoa Nghiêm có thể được thấy ở Triều Tiên, nơi tông nầy được truyền bá do ngài Nghĩa Tương (k: Ŭisang 義湘), cùng với Pháp Tạng, là môn đệ của ngài Trí Nghiễm. Sau khi Nghĩa Tương trở về Triều Tiên năm 671, ngài tận lực xiển dương tông Hoa Nghiêm trên bán đảo nầy. Trong nỗ lực đó, ngài được hỗ trợ lớn lao bởi uy tín của pháp hữu là Nguyên Hiểu (k: Wŏnhyo 元曉), là người mặc dù không đại diện chính thức cho tông nầy, nhưng đã căn cứ rất sâu sắc vào tư tưởng siêu hình học trong kinh Hoa Nghiêm để lập nên tư tưởng 'Thông Phật giáo通佛教'. Sau khi hai vị nầy viên tịch, tông Hoa Nghiêm trở nên phát triển mạnh mẽ nhờ vào ảnh hưởng của nhiều bậc thầy trong chính tông phái ấy. Tông Hoa Nghiêm duy trì được vị trí tông phái có giáo lý nổi bật ở Triều Tiên mãi cho đến thời kỳ Koryŏ, khi tông nầy được đặt vào vị thế phải hoà nhập với Thiền tông. Trong Thiền tông, tư tưởng Hoa Nghiêm tiếp tục đóng vai trò chủ yếu và kéo dài như vậy cho đến ngày nay. Việc nghiên cứu kinh Hoa Nghiêm được bắt đầu ở Nhật Bản vào năm 736 khi Tăng sĩ học giả Lương Biện (j: Rōben 良辯) (nguyên là một học giả Pháp tướng tông) mời một Tăng sĩ Triều Tiên Là Thẩm Tường (k: Simsang 審祥) giảng thuyết về kinh Hoa Nghiêm tại Kim Chung tự (Konshuji 金鐘寺) Khi việc kiến thiết chùa Đông Đại tự (Tōdaiji 東大寺) đã xong, Lương Biện ở tại chùa nầy chính thức đưa kinh Hoa Nghiêm vào như một lãnh vực nghiên cứu chính của Phật giáo Nhật Bản, và tông Hoa Nghiêm trở nên một trong “Sáu tông phái của Phật giáo Nại Lương”. Tư tưởng Hoa Nghiêm về sau được phổ biến ở Nhật Bản do Minh Huệ (Myōe 明惠), người đã phối hợp giáo lý Hoa Nghiêm với Mật giáo; và ngài Ngưng Nhiên (j: Gyōnen 凝然), người đã có công sáng lập phái Đông Đại Tự thuộc tông Hoa Nghiêm. Sự góp phần quan trọng nhất về mặt triết học của tông Hoa Nghiêm là lãnh vực siêu hình học, như được trình bày qua giáo lý tương dung tương tức của mọi hiện tượng (sự sự vô ngại), một trong tất cả, tất cả trong một. Trang tra cứu Thuật ngữ Phật học từ các nguồn từ điển tổng hợp hiện có, bao gồm từ điển Phật Quang, từ điển Đạo Uyển... do Liên Phật Hội thực hiện."/>
Tinh cần giữa phóng dật, tỉnh thức giữa quần mê. Người trí như ngựa phi, bỏ sau con ngựa hènKinh Pháp cú (Kệ số 29)
Hạnh phúc đích thực không quá đắt, nhưng chúng ta phải trả giá quá nhiều cho những thứ ta lầm tưởng là hạnh phúc. (Real happiness is cheap enough, yet how dearly we pay for its counterfeit.)Hosea Ballou
Khởi đầu của mọi thành tựu chính là khát vọng. (The starting point of all achievement is desire.)Napoleon Hill
Bạn có thể lừa dối mọi người trong một lúc nào đó, hoặc có thể lừa dối một số người mãi mãi, nhưng bạn không thể lừa dối tất cả mọi người mãi mãi. (You can fool all the people some of the time, and some of the people all the time, but you cannot fool all the people all the time.)Abraham Lincoln
Thành công có nghĩa là đóng góp nhiều hơn cho cuộc đời so với những gì cuộc đời mang đến cho bạn. (To do more for the world than the world does for you, that is success. )Henry Ford
Kẻ không biết đủ, tuy giàu mà nghèo. Người biết đủ, tuy nghèo mà giàu. Kinh Lời dạy cuối cùng
Tài năng là do bẩm sinh, hãy khiêm tốn. Danh vọng là do xã hội ban cho, hãy biết ơn. Kiêu căng là do ta tự tạo, hãy cẩn thận. (Talent is God-given. Be humble. Fame is man-given. Be grateful. Conceit is self-given. Be careful.)John Wooden
Những ai có được hạnh phúc cũng sẽ làm cho người khác được hạnh phúc. (Whoever is happy will make others happy too.)Anne Frank
Không nên nhìn lỗi người, người làm hay không làm.Nên nhìn tự chính mình, có làm hay không làm.Kinh Pháp cú (Kệ số 50)
Mục đích cuộc đời ta là sống hạnh phúc. (The purpose of our lives is to be happy.)Đức Đạt-lai Lạt-ma XIV
Trang chủ »» Danh mục »» Từ điển thuật ngữ Phật học »» Đang xem mục từ: Hoa Nghiêm tông 華嚴宗 »»
Hướng dẫn: Quý vị có thể nhập nguyên một từ để tìm xem tất cả những từ ngữ bắt đầu bằng từ đó. Ví dụ, nhập quyết để xem Quyết định tâm, Quyết định tạng luận, Quyết định tín v.v...
DO NXB LIÊN PHẬT HỘI PHÁT HÀNH
Mua sách qua Amazon sẽ được gửi đến tận nhà - trên toàn nước Mỹ, Canada, Âu châu và Úc châu.
Quý vị đang truy cập từ IP 216.73.216.125 và chưa ghi danh hoặc đăng nhập trên máy tính này. Nếu là thành viên, quý vị chỉ cần đăng nhập một lần duy nhất trên thiết bị truy cập, bằng email và mật khẩu đã chọn.
Chúng tôi khuyến khích việc ghi danh thành viên ,để thuận tiện trong việc chia sẻ thông tin, chia sẻ kinh nghiệm sống giữa các thành viên, đồng thời quý vị cũng sẽ nhận được sự hỗ trợ kỹ thuật từ Ban Quản Trị trong quá trình sử dụng website này.
Việc ghi danh là hoàn toàn miễn phí và tự nguyện.
Ghi danh hoặc đăng nhập