Hãy sống tốt bất cứ khi nào có thể, và điều đó ai cũng làm được cả.Đức Đạt-lai Lạt-ma XIV
Thiên tài là khả năng hiện thực hóa những điều bạn nghĩ. (Genius is the ability to put into effect what is on your mind. )F. Scott Fitzgerald
Ai bác bỏ đời sau, không ác nào không làm.Kinh Pháp cú (Kệ số 176)
Rời bỏ uế trược, khéo nghiêm trì giới luật, sống khắc kỷ và chân thật, người như thế mới xứng đáng mặc áo cà-sa.Kinh Pháp cú (Kệ số 10)
Hãy làm một người biết chăm sóc tốt hạt giống yêu thương trong tâm hồn mình, và những hoa trái của lòng yêu thương sẽ mang lại cho bạn vô vàn niềm vui và hạnh phúc.Tủ sách Rộng Mở Tâm Hồn
Chúng ta không thể đạt được sự bình an nơi thế giới bên ngoài khi chưa có sự bình an với chính bản thân mình. (We can never obtain peace in the outer world until we make peace with ourselves.)Đức Đạt-lai Lạt-ma XIV
Kỳ tích sẽ xuất hiện khi chúng ta cố gắng trong mọi hoàn cảnh.Sưu tầm
Người hiền lìa bỏ không bàn đến những điều tham dục.Kẻ trí không còn niệm mừng lo, nên chẳng bị lay động vì sự khổ hay vui.Kinh Pháp cú (Kệ số 83)
Hành động thiếu tri thức là nguy hiểm, tri thức mà không hành động là vô ích. (Action without knowledge is dangerous, knowledge without action is useless. )Walter Evert Myer
Trong cuộc sống, điều quan trọng không phải bạn đang ở hoàn cảnh nào mà là bạn đang hướng đến mục đích gì. (The great thing in this world is not so much where you stand as in what direction you are moving. )Oliver Wendell Holmes

Trang chủ »» Danh mục »» Đại từ điển Phật Quang »» Đang xem mục từ: phật học »»

Đại từ điển Phật Quang »» Đang xem mục từ: phật học








KẾT QUẢ TRA TỪ


phật học:

(佛學) Môn học nghiên cứu về hệ thống, nguồn gốc và sự phát triển tư tưởng của Phật giáo. Nội dung của nền Phật học là những giáo pháp do đức Phật nói ra, sau được các vị đệ tử trực tiếp của Phật kết tập lại, rồi do các bậc Tổ sư các đời, căn cứ vào giáo pháp ấy, nghiên cứu, phân tích, giải thích, thuyết minh một cách có hệ thống mà thành lập các loại học thuyết về 2 chủ đề trọng đại là vũ trụ và con người. Phật học gồm 2 phương diện lí luận và thực tiễn, bao quát 4 phạm trù: Giáo, lí, hành, chứng, là pháp môn hướng dẫn con người đạt đến cảnh giới giải thoát, yên vui chân thực. Sự phát triển của hệ thống Phật học ở Ấn độ, theo Pháp sư Ấn thuận, có thể chia làm 5 thời kì để khảo sát như sau: 1. Thời kì cùng đạt được giải thoát, lấy Thanh văn làm gốc: Thời kì này bắt đầu từ lúc đức Phật lập giáo đến khi Ngài nhập diệt. Giáo pháp chủ yếu mà đức Phật đã nói ở thời kì này là 12 nhân duyên, 8 chính đạo và 4 Thánh đế, chỉ dạy cá nhân diệt trừ phiền não khổ đau để đạt đến Niết bàn an lạc. 2. Thời kì Thanh văn chia ra dòng phái có khuynh hướng Bồ tát: Thời kì này bắt đầu từ khi đức Phật nhập diệt đến 400 năm sau (khoảng thế kỉ IV đến thế kỉ I trước Tây lịch), tức tương đương với thời kì Phật giáo Bộ phái. Đứng về phương diện tinh thần căn bản mà nhận xét thì thời kì này có sự đối lập giữa 2 khuynh hướng tư tưởng: Chủ nghĩa thực tiễn (Thượng tọa bộ bảo thủ)và chủ nghĩa lí tưởng (Đại chúng bộ cấp tiến). Khoảng 100 năm trước Tây lịch, từ 2 bộ phái căn bản Thượng tọa và Đại chúng, đã chia thành 20 bộ phái(gọi chung là 20 bộ phái Tiểu thừa).Trong 20 bộ phái này, thuộc hệ thống Thượng tọa bộ, có những bộ phái quan trọng như: Thuyết nhất thiết hữu bộ, Kinh lượng bộ, Độc tử bộ v.v...… Trong đó, Thuyết nhất thiết hữu bộ chủ trương tất cả pháp đều có thực (Phạm: Dravyata#sat), đều tồn tại về mặt tự tướng (Phạm: Svalakwaịatà), các pháp tồn tại độc lập…..., tức chủ trương Pháp thể hằng hữu, Tam thế thực hữu và thế giới tự nhiên do nguyên tử (cực vi) cấu tạo thành. Kinh lượng bộ thì cho rằng sắc pháp chỉ có 4 đại và tâm là có thực, đồng thời chủ trương hiện tại có thực, quá khứ, vị lai không có. Còn Độc tử bộ thì cho rằng Bổ đặc già la (Phạm: Pudgala) là chủ thể của luân hồi, 5 uẩn chẳng phải một chẳng phải khác. Hệ thống thuộc Đại chúng bộ thì chú trọng tính chất siêu việt tuyệt đối của đức Phật, hạnh nguyện vị tha của Bồ tát và chủ trương tâm tính vốn thanh tịnh, quá khứ, vị lai không có thực…... 3. Thời kì có đủ cả Đại thừa và Tiểu thừa nhưng lấy Bồ tát làm gốc: Thời kì này Phật giáo Đại thừa bắt đầu lưu hành (từ khoảng thế kỉ I tr.TL. đến thế kỉ III TL.). Phật giáo ở thời kì này lấy tư tưởng Bồ tát làm chính, nhưng không coi nhẹ hoặc phủ nhận Tiểu thừa. Nhân vật tiêu biểu của thời kì này là ngài Long thụ. Ngài soạn bộ Trung luận chủ trương thế giới kinh nghiệm hiện thực đều sinh diệt biến hóa, nên tất cả các pháp đều không có thực thể. Căn cứ vào lí duyên sinh, đứng trên lập trường tuyệt đối mà quán xét thì bản tính các pháp là không, đó là Chân đế; đứng trên lập trường tương đối mà thừa nhận các pháp thế gian là có giả, đó là Tục đế; không cố chấp bất cứ khái niệm cực đoan nào, đó là Trung đạo. 4. Thời kì phân chia dòng phái Bồ tát có khuynh hướng Như lai: Thời kì này là khoảng thời gian sau đức Phật nhập diệt 700 năm đến 1.000 năm (tức khoảng thế kỉ III đến thế kỉ VI Tây lịch). Thời kì này, vấn đề thành Phật được chia ra 2 thuyết: Phật chủng tòng duyên khởi(hạt giống Phật được huân tập dần dần mà thành)và Phật tính bản hữu (tất cả chúng sinh đều đã có sẵn tính Phật, cho nên đều có khả năng thành Phật). Hai nhân vật tiêu biểu cho thời kì này là các ngài Vô trước và Thế thân, phản đối quan điểm Không của ngài Long thụ ở thời kì trước, dựa vào thuyết Duy thức mà lập ra 3 tính: Biến kế sở chấp tính, Y tha khởi tính và Viên thành thực tính, chủ trương vạn hữu đều do thể của thức người ta biến hiện. Thức biến hiện có 3 loại: Thức A lại da, thức Mạt na và 6 thức (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý). 5. Thời kì Phạm và Phật cùng 1 thể, lấy Phật làm gốc: Đây cũng là thời kì Phật giáo dần dần diệt vong. Khuynh hướng Như lai vốncósẵn dung nhiếp với chú thuật thần bí của thế tục, tư tưởng Phật giáo dần dần kết hợp với Phạm ngã luận của Bà la môn giáo, để rồi tiến vào thời đại Như lai là gốc, Phạm Phật nhất thể. Lại vì Phật giáo Đại thừa hưng thịnh, những tư tưởng như Phật lực vô lượng, Bồ tát đại nguyện, tha lực gia trì…... bột phát mạnh mẽ, khiến cho Phật giáo Đại thừa biến thành Mật giáo. Thời kì này hành giả mãi mê truy cầu tức thân thành Phật, đánh mất tinh thần lợi tha cố hữu của Đại thừa, bên ngoài thì Bà la môn giáo hưng thịnh, bên trong thì các tư tưởng như duy tâm, chân thường, viên dung, tha lực, thần bí, đốn chứng...… dần dần đồng hóa với Phạm thần, nên đến thế kỉ XII thì Phật giáo đã mất hết dấu tích ở Ấn độ. Còn ở Trung quốc thì Phật họcđược truyền vào từ đời Hán, chia thành nhiều tông phái khác nhau, sản sinh ra nhiều học thuyết bất đồng. Để tránh xung đột và mâu thuẫn, các nhà Phật học Trung quốc đã dùng phương thức phán giáo để dung hòa các khuynh hướng dị biệt. Phật học Trung quốc sau thời kì du nhập, dần dần chia ra 8 tông, 10 tông, 13 tông. Nếu nói theo 8 tông thì Thiền, Tịnh, Luật, Mật thuộc về hành trì, còn Tam luận, Thiên thai, Hoa nghiêm, Duy thức thì chuyên về nghĩa học. Nếu phân loại để nghiên cứu Phật học thì có thể quan sát theo nhiều góc độ khác nhau. Nếu khảo sát Phật học về phương diện tư tưởng sử thì có thể chia làm Phật giáo nguyên thủy và Phật giáo phát triển; nếu theo quan điểm địa lí thì có thể chia ra 2 hệ thống tư tưởng là Phật giáo Nam truyền và Phật giáo Bắc truyền. Còn nếu nhận xét theo nội dung giáo nghĩa thì có các loại nhị phần pháp như: Nhị thừa Đại-Tiểu, nhị giáo Quyền - Thực, nhị môn Thánh - Tịnh, nhị giáo Hiển-Mật, nhị tông Giáo-Thiền…... Các học giả hiện đại cũng có khuynh hướng phân loại Phật học làm 2 môn lớn theo tư trào học thuật mới như Vũ trụ luận, lấy việc nghiên cứu và thuyết minh chân tướng của vạn hữu làm mục đích, lấy lí luận làm trung tâm và Giải thoát luận, lấy việc trình bày rõ phương pháp và ý nghĩa chân thực của sự giải thoát, lấy thực tiễn làm mục đích...… Ông Megovorn người Mĩ thì chia Phật học làm 2 môn: Siêu việt triết học (Bản thể luận) và Tương đối triết học (Vũ trụ luận). Phạm vị Vũ trụ luận của Phật học rất rộng. Có học phái căn cứ vào nhân quả liên tục của các hiện tượng để thuyết minh vạn vật do đa nguyên sinh khởi; có học phái chủ trương Duy tâm nhất nguyên luận cho rằng các hiện tượng vật chất là do nguyên lí tinh thần khai triển; có học phái khẳng định Thực tại bản thể luận siêu việt hiện tượng; lại có học phái không phân biệt bản thể và hiện tượng, đem các hoạt động của hiện tượng qui vào bản thể mà chủ trương hiện tượng tức bản thể. Nói một cách khái quát thì Vũ trụ luận của Phật học có thể chia làm 2 hệ thống lớn là Duyên khởi luận và Thực tướng luận. 1. Duyên khởi luận: Giải thích sự sinh khởi của vũ trụ vạn pháp, có các luận thuyết sau đây: a) Nguyên nhân sinh khởi của vạn pháp là nghiệp lực tạo tác của con người, gọi là Nghiệp cảm duyên khởi luận. b) Hết thảy muôn pháp đều do thức A lại da thứ 8 của con người biến hiện ra, gọi là A lại da nguyên khởi luận (học thuyết Duy thức). c) Hết thảy mọi hiện tượng đều từ bản thể chân như sinh khởi, gọi là Chân như duyên khởi luận (học thuyết Chân thường). d) Xuất phát từ lí luận bản thể tức hiện tượng, hiện tượng tức bản thể, gọi là Pháp giới duyên khởi luận (học thuyết Hoa nghiêm). e) Vũ trụ vạn hữu sinh khởi từ 6 nguyên tố lớn: Đất, nước, lửa, gió, không, thức là tổng thể linh động của pháp thân Đại nhật Như lai, gọi là Lục đại duyên khởi(học thuyết Chân ngôn). 2. Thực tướng luận: Giữa các học phái Phật giáo chủ trương các luận thuyết sau đây: a) Phủ định sự tồn tại của cái ta chủ quan, nhưng đối với các hiện tượng khách quan thì khẳng định có thực thể, gọi là Pháp hữu luận. b) Chủ trương thuyết ngã thể chủ quan và pháp thể khách quan đều là không, gọi là Pháp không luận(học thuyết của 20 bộ phái Tiểu thừa và luận Thành thực). c) Chủ trương hiện tượng là không hoặc là có giả, còn bản thể thì có thực, gọi là Hữu không trung đạo luận (học thuyết Duy thức). d) Phủ định hữu không tương đối, lấy tuyệt đối bất khả đắc làm lí tưởng rốt ráo, gọi là Vô tướng giai không luận (học thuyết Trung quán). e) Quán sát hiện tượng tức bản thể, toàn thể vũ trụ vạn hữu đều là thực thể nhất như, gọi là Chư pháp thực tướng luận(học thuyết Thiên thai). Duyên khởi luận thuyết minh tình hình sinh diệt biến hóa của vạn hữu theo phương diện thời gian, đó là Vũ trụ hiện tượng luận; còn Thực tướng luận thì thuyết minh chân lí rốt ráo của vạn hữu theo phương diện không gian, đó là Vũ trụ bản thể luận. Giải thoát luận thì đem nguyên lí giải thoát ứng dụng vào thực tiễn, theo con đường hướng thượng để đạt đến mục địch cứu cánh; có thể chia ra 3 hệ thống lớn: Giải thoát thực chất luận, Giải thoát hình thức luận và Giải thoát thứ đệ luận. 1. Giải thoát thực chất luận: Cảnh giới giải thoát chân thực, tức là Niết bàn, Như lai, Phật độ, Phật thân…... đều là biểu thị giải thoát thực chất. 2. Giải thoát hình thức luận: Các phương pháp thực hành để hiển bày thực chất như trì giới cầu giải thoát (Giới luật luận), vãng sinh cầu giải thoát (Vãng sinh luận), tu quán cầu giải thoát (Tu quán luận), đoạn hoặc cầu giải thoát (Đoạn hoặc luận)…... đều thuộc hình thức giải thoát. 3. Giải thoát thứ đệ luận: Hàng phàm phu có thể nhờ công sức tu hành mà được giải thoát. Nhưng vì sự tu hành của họ có cạn sau khác nhau nên phải tuần tự theo thứ lớp tiến dần từ phàm đến thánh, cho đến rốt ráo thành Phật, giải thoát vĩnh viễn. Đó là Giải thoát thứ tự luận.


Nếu muốn duyệt qua từng vần trong từ điển,
xin nhập vào ô dưới đây vần tương ứng. Ví dụ: A, B, C...

Nhập vần muốn tra:
Để giới hạn kết quả tìm kiếm chính xác hơn, quý vị có thể nhập 2 hoặc 3 chữ cái đầu vần. Ví dụ, để tìm những chữ như thiền, thiện... quý vị nên nhập thi thay vì t... sẽ cho một kết quả gần với yêu cầu của quý vị hơn.

Quý vị đang truy cập từ IP 54.80.33.183 (911221175) và chưa ghi danh hoặc đăng nhập trên máy tính này. Nếu là thành viên, quý vị chỉ cần đăng nhập một lần duy nhất trên thiết bị truy cập, bằng email và mật khẩu đã chọn.
Chúng tôi khuyến khích việc ghi danh thành viên ,để thuận tiện trong việc chia sẻ thông tin, chia sẻ kinh nghiệm sống giữa các thành viên, đồng thời quý vị cũng sẽ nhận được sự hỗ trợ kỹ thuật từ Ban Quản Trị trong quá trình sử dụng website này.
Việc ghi danh là hoàn toàn miễn phí và tự nguyện.

Ghi danh hoặc đăng nhập

Thành viên đang online:
Rộng Mở Tâm Hồn Beajimin Jp Rộng Mở Tâm Hồn duc ho Rộng Mở Tâm Hồn Tri Huynh Rộng Mở Tâm Hồn Konchog Dondrup Samten Rộng Mở Tâm Hồn baole Rộng Mở Tâm Hồn hieudepzai Rộng Mở Tâm Hồn Nguyen Thi Ngoc dung Rộng Mở Tâm Hồn Huệ Trí 1975 Rộng Mở Tâm Hồn Phi Thiên Rộng Mở Tâm Hồn Lương Trường Rộng Mở Tâm Hồn tuan huynh Rộng Mở Tâm Hồn phú nguyên Rộng Mở Tâm Hồn minhanhcon Rộng Mở Tâm Hồn Minh Hoa 237 Rộng Mở Tâm Hồn Giao Rộng Mở Tâm Hồn Trần Thị Huyền Rộng Mở Tâm Hồn Baoquan Rộng Mở Tâm Hồn Rongvang61 Rộng Mở Tâm Hồn Amalo Sati Rộng Mở Tâm Hồn Thích Nữ Hạnh Như Rộng Mở Tâm Hồn phước Hoà Rộng Mở Tâm Hồn Nguyễn Long Rộng Mở Tâm Hồn habichthuy Rộng Mở Tâm Hồn Quoc Phan Rộng Mở Tâm Hồn Truong Quang Minh Rộng Mở Tâm Hồn huynhphuoctuan Rộng Mở Tâm Hồn hatran Rộng Mở Tâm Hồn Nhuận Hoà Minh Rộng Mở Tâm Hồn b69 Rộng Mở Tâm Hồn buidacduong Rộng Mở Tâm Hồn Bao Phan Rộng Mở Tâm Hồn Hộ Chánh Rộng Mở Tâm Hồn Nguyên Bửu Đường Rộng Mở Tâm Hồn P V Thu Rộng Mở Tâm Hồn Phạm Thiên Rộng Mở Tâm Hồn NGỌC THẠCH Rộng Mở Tâm Hồn Nguyễn Văn Tài Rộng Mở Tâm Hồn Phúc Trung Rộng Mở Tâm Hồn Trần Thị Lan Anh Rộng Mở Tâm Hồn Nguyên Hiền ... ...

Việt Nam (17.246 lượt xem) - Hoa Kỳ (5.919 lượt xem) - Australia (222 lượt xem) - Pháp quốc (69 lượt xem) - Central African Republic (61 lượt xem) - Trung Hoa (53 lượt xem) - Đức quốc (21 lượt xem) - Mayotte (20 lượt xem) - Anh quốc (8 lượt xem) - Benin (8 lượt xem) - Cambodia (7 lượt xem) - Ấn Độ (7 lượt xem) - Đài Loan (1 lượt xem) - Ivory Coast (1 lượt xem) - Sri Lanka (1 lượt xem) - Nga (1 lượt xem) - Nhật Bản (1 lượt xem) - Singapore (1 lượt xem) - ... ...