Một người trở nên ích kỷ không phải vì chạy theo lợi ích riêng, mà chỉ vì không quan tâm đến những người quanh mình. (A man is called selfish not for pursuing his own good, but for neglecting his neighbor's.)Richard Whately
Thương yêu là phương thuốc diệu kỳ có thể giúp mỗi người chúng ta xoa dịu những nỗi đau của chính mình và mọi người quanh ta.Tủ sách Rộng Mở Tâm Hồn
Để sống hạnh phúc bạn cần rất ít, và tất cả đều sẵn có trong chính bạn, trong phương cách suy nghĩ của bạn. (Very little is needed to make a happy life; it is all within yourself, in your way of thinking.)Marcus Aurelius
Tôi biết ơn những người đã từ chối giúp đỡ tôi, vì nhờ có họ mà tôi đã tự mình làm được. (I am thankful for all of those who said NO to me. Its because of them I’m doing it myself. )Albert Einstein
Nếu người có lỗi mà tự biết sai lầm, bỏ dữ làm lành thì tội tự tiêu diệt, như bệnh toát ra mồ hôi, dần dần được thuyên giảm.Kinh Bốn mươi hai chương
Những khách hàng khó tính nhất là người dạy cho bạn nhiều điều nhất. (Your most unhappy customers are your greatest source of learning.)Bill Gates
Người ta thuận theo sự mong ước tầm thường, cầu lấy danh tiếng. Khi được danh tiếng thì thân không còn nữa.Kinh Bốn mươi hai chương
Của cải và sắc dục đến mà người chẳng chịu buông bỏ, cũng tỷ như lưỡi dao có dính chút mật, chẳng đủ thành bữa ăn ngon, trẻ con liếm vào phải chịu cái họa đứt lưỡi.Kinh Bốn mươi hai chương
Nếu muốn tỏa sáng trong tương lai, bạn phải lấp lánh từ hôm nay.Sưu tầm
Bạn có thể trì hoãn, nhưng thời gian thì không. (You may delay, but time will not.)Benjamin Franklin

Trang chủ »» Danh mục »» Đại từ điển Phật Quang »» Đang xem mục từ: lịch »»

Đại từ điển Phật Quang »» Đang xem mục từ: lịch








KẾT QUẢ TRA TỪ


lịch:

(曆) Phương pháp suy tính theo sự vận hành của các thiên thể mà định ra năm, tháng, ngày, giờ, gọi là Lịch. Lịch Tàu tính theo mặt trăng mà định, gọi là Âm lịch; lịch Tây tính theo vòng trái đất quay quanh mặt trời mà định, gọi là Dương lịch. Vào khoảng thế kỉ thứ I trước Tây lịch, người Ấn độ đã dùng âm lịch. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 2, thì ngày trăng tròn gọi là Nguyệt sơ (đầu tháng). Mỗi tháng từ ngày trăng tròn (15) đến ngày không trăng (29, nếu là tháng thiếu, 30, nếu là tháng đủ) gọi là Hắc phần (phần đen, Phạm: Kfwịa-pakwa, tùy theo tháng thiếu, tháng đủ mà phần đen có 14 ngày, hoặc 15 ngày khác nhau); từ ngày trăng mới nhú đến ngày trăng tròn, gọi là Bạch phần (phần trắng, Phạm:Zukla). Trong 1 năm chia làm 6 mùa: 1. Tiệm nhiệt (nóng dần): Từ ngày 16 tháng giêng đến ngày 15 tháng 3. 2. Thịnh nhiệt (nóng gắt): Từ ngày 16 tháng 3 đến ngày 15 tháng 5. 3. Vũ thời (mùa mưa): Từ ngày 16 tháng 5 đến ngày 15 tháng 7. 4. Mậu thời (mùa cây cỏ mọc tốt): Từ ngày 16 tháng 7 đến ngày 15 tháng 9. 5. Tiệm hàn (lạnh dần): Từ ngày 16 tháng 9 đến ngày 15 tháng 11. 6. Thịnh hàn (rét đậm): Từ ngày 16 tháng 11 đến ngày 15 tháng giêng. Phật giáo thì trong 1 năm chia làm 3 mùa: 7. Nhiệt thời (mùa nắng): Từ ngày 16 tháng giêng đến ngày 15 tháng 5. 8. Vũ thời (mùa mưa): Từ ngày 16 tháng 5 đến ngày 15 tháng 9. 9. Hàn thời (mùa rét): Từ ngày 16 tháng 9 đến ngày 15 tháng giêng. Hoặc chia làm 4 mùa: Xuân,Hạ,Thu, Đông. Tên của 12 tháng trong 1 năm: Tháng Chế đát la (Phạm:Caitra): Từ ngày 16 tháng giêng đến ngày 15 tháng 2. tháng phệ xá khư (phạm:vaizàkha)., tháng thệ sắt tra (phạm:jyewỉha). , tháng át sa đồ (phạm:àwàđha). , tháng thất la phạt noa (phạm: zravaịa). , tháng bà la bát đà (phạm: bhàdrapada). , tháng át thấp phược dữu xà (phạm: azvayuja). , tháng ca thích để ca (phạm: kàrttika). , tháng mạt già thủy la (phạm: margazìrwa). , tháng báo sa (phạm:pauwa). , tháng ma già (phạm:màgha). , tháng phả lặc lũ noa (phạm: phàlguna): từ ngày 16 tháng 12 đến ngày 15 tháng giêng. tại trung quốc, từ niên hiệu thái sơ năm đầu (104 trước tây lịch) đời tây hán đến cuối đời thanh, đã có tất cả 46 lần đổi lịch. lịch pháp trung quốc giống với lịch pháp ấn độ, đại khái cũng sử dụng âm lịch, trong đó, lịch đại diễn do ngài nhất hạnh làm ra được dùng trong khoảng 33 năm bắt đầu từ năm khai nguyên 17 (729) đời đường. tại nhật bản, vào năm suy cổ thiên hoàng thứ 10 (602), vị tăng bách tế (triều tiên ngày nay) là ngàiquán lặc truyền lịch nguyên gia đời lưu tống, trung quốc, đến nhật bản và bắt đầu được sử dụng vào năm suy cổ thiên hoàng 12 (604). từ năm thiên bình bảo tự thứ 7 (763) trở đi, trong khoảng 94 năm, nhật bản dùng lịch đại diễn của trung quốc. cho mãi đến niên hiệu trinh hưởng năm đầu (1684), 1 người nhật tên là bảo tỉnh xuân hải làm ra lịch trinh hưởng, từ đó nhật bản mới dùng lịch của chính mình. nhưng từ minh trị duy tân năm thứ 5 (1872) cho đến nay thì sử dụng dương lịch. giữa lịch pháp và các ngày lễ của phật giáo có mối quan hệ mật thiết, như các ngày đức phật thích ca giáng sinh, thành đạo, nhập niết bàn, v.v... đối với ấn độ có nhiều thuyết khác nhau, đó là do sự sai khác về lịch pháp mà ra. như ngày kị tông tổ của các tông ở nhật bản hiện nay không vì đổi lịch mà có sai khác, đó là vì ngày tháng của lịch cũ được tính theo ngày tháng tương đương của lịch mới. chẳng hạn như ngày kị của ngài đạo nguyên tông tào động là ngày 28 tháng 8 của lịch cũ (âm lịch) được đổi thành ngày 29 tháng 9 của lịch mới (dương lịch), nhưng ở nông thôn thì vì lí do cày cấy, trồng trọt và các lễ hội như hội vu lan bồn v.v... vẫn dùng lịch cũ. ngoài ra, lựa chọn 1 số định tinh tương đối sáng tỏ hơn ở gần hoàng đạo (tức vòng tròn lớn giao nhau giữa quĩ đạo trái đất quay quanh mặt trời với thiên cầu) chia làm 28 tổ: mão, tất, tuy, sâm, tỉnh, quỉ, liễu (đều thuộc phương đông), tinh, trương, dực, chẩn, dốc, cang, đê (đều thuộc phương nam), phòng, tâm, vĩ, cơ, đẩu, ngưu, nữ (đều thuộc phương tây), hư, nguy, thất, bích, khuê, lâu, vị (đều thuộc phương bắc), gọi là nhị thập bát tú (28 vì sao). thuyết nhị thập bát tú đã thịnh hành ở ấn độ rất sớm, nhưng ấn độ cho rằng sao ngưu không có liên quan gì với sự vận hành của mặt trăng, như luận thụ để sa trong 6 bộ luận của ngoại đạo cũng chỉ nêu tên của 27 sao, do đó có thể biết đời sau ở ấn độ chỉ lưu hành thuyết 27 sao là chính. lại vì tính chất của 27 sao đều khác nhau, cho nên phương pháp tính lấy các ngày tương đương với 27 sao mà bàn về lành, dữ; hoặc đem ngày tháng năm sinh của người phối với 27 sao để đoán vận mệnh tốt, xấu v.v... đều gọi là phép chiêm tinh. hai mươi bảy sao này được chia làm 7 loại là: 1. an trùng tú: tất, dực, đẩu, bích. 2. hòa thiện tú: tuy, dốc, phòng, khuê. 3. độc hại tú: sâm, liễu, tâm, vĩ. 4. cấp tốc tú: quỉ, chẩn, vị, lâu. 5. hung ác tú: tinh, trương, cơ, thất. 6. khinh táo tú (hành tú): tỉnh, cang, nữ, hư, nguy. 7. cương nhu tú: mão, đê. tại các nước châu á từ xưa cũng đã lưu hành thuyết cho rằng sự vận hành của các vì tinh tú có liên quan đến ngày sinh của con người và có thể căn cứ vào đó mà tính toán để đoán lành dữ, tốt xấu. trong các kinh điển phật như kinh ma đăng già, kinh xá đầu gián thái tử nhị thập bát tú, kinh phật mẫu đại khổng tước minh vương, kinh tú diệu v.v... cũng có những thuyết này. tại nhật bản, lấy ngày đầu năm theo lịch cũ là tiên thắng, kế đó là hữu dẫn, tiên phụ, phật diệt, đại an và xích khẩu, theo thứ tự thay nhau để biểu thị sự tốt, xấu trong các ngày đó, gọi là lục diệu nhật, phong tục này bắt nguồn từ trung quốc. những tên gọi của các ngày nói trên bắt đầu xuất hiện từ thời đại giang hộ, nhưng về nguyên do tại sao đặt các tên như thế thì không được rõ.


Nếu muốn duyệt qua từng vần trong từ điển,
xin nhập vào ô dưới đây vần tương ứng. Ví dụ: A, B, C...

Nhập vần muốn tra:
Để giới hạn kết quả tìm kiếm chính xác hơn, quý vị có thể nhập 2 hoặc 3 chữ cái đầu vần. Ví dụ, để tìm những chữ như thiền, thiện... quý vị nên nhập thi thay vì t... sẽ cho một kết quả gần với yêu cầu của quý vị hơn.

Quý vị đang truy cập từ IP 54.90.207.75 (911920971) và chưa ghi danh hoặc đăng nhập trên máy tính này. Nếu là thành viên, quý vị chỉ cần đăng nhập một lần duy nhất trên thiết bị truy cập, bằng email và mật khẩu đã chọn.
Chúng tôi khuyến khích việc ghi danh thành viên ,để thuận tiện trong việc chia sẻ thông tin, chia sẻ kinh nghiệm sống giữa các thành viên, đồng thời quý vị cũng sẽ nhận được sự hỗ trợ kỹ thuật từ Ban Quản Trị trong quá trình sử dụng website này.
Việc ghi danh là hoàn toàn miễn phí và tự nguyện.

Ghi danh hoặc đăng nhập

Thành viên đang online:
Rộng Mở Tâm Hồn Phạm Thiên Rộng Mở Tâm Hồn Gia Khiêm Rộng Mở Tâm Hồn CHÙA CÁT TƯỜNG Rộng Mở Tâm Hồn baole Rộng Mở Tâm Hồn b69 Rộng Mở Tâm Hồn Daominh.tst Rộng Mở Tâm Hồn Vô Sở đắc Rộng Mở Tâm Hồn Sang Vo Rộng Mở Tâm Hồn nguyễn vĩnh hảo Rộng Mở Tâm Hồn Hoang Khanh Rộng Mở Tâm Hồn Phúc Vinh Rộng Mở Tâm Hồn KQL 2 Rộng Mở Tâm Hồn The end Rộng Mở Tâm Hồn Konchog Dondrup Samten Rộng Mở Tâm Hồn tuệ thanh Rộng Mở Tâm Hồn Minh Hữu Rộng Mở Tâm Hồn Viên Du Thành Rộng Mở Tâm Hồn Trần Thị Huyền Rộng Mở Tâm Hồn đinh trung Rộng Mở Tâm Hồn Pháp Tín Rộng Mở Tâm Hồn Tri Huynh Rộng Mở Tâm Hồn William Thanhha Rộng Mở Tâm Hồn ngo thuy linh Rộng Mở Tâm Hồn phan thai hong Rộng Mở Tâm Hồn Lãng Yên Rộng Mở Tâm Hồn Hoàng T. Nguyên Rộng Mở Tâm Hồn Thích Nữ Nguyên Thiện Rộng Mở Tâm Hồn Nguyễn Hoàng So Rộng Mở Tâm Hồn hoangtran27793 Rộng Mở Tâm Hồn Beajimin Jp Rộng Mở Tâm Hồn Phan lê Gia Quyên Rộng Mở Tâm Hồn võ hiếu nghĩa Rộng Mở Tâm Hồn Quế Mai Rộng Mở Tâm Hồn Kyuxu Rộng Mở Tâm Hồn Nguyễn Ngọc Mỹ Rộng Mở Tâm Hồn thaingocmai Rộng Mở Tâm Hồn Jerry Rộng Mở Tâm Hồn Nguyễn M Minh Rộng Mở Tâm Hồn tự nhiên Rộng Mở Tâm Hồn Vũ Tiến Lập ... ...

Việt Nam (28.066 lượt xem) - Hoa Kỳ (7.606 lượt xem) - Australia (197 lượt xem) - Central African Republic (67 lượt xem) - Pháp quốc (60 lượt xem) - Ấn Độ (59 lượt xem) - Đức quốc (34 lượt xem) - Trung Hoa (25 lượt xem) - Mayotte (20 lượt xem) - Anh quốc (11 lượt xem) - Benin (9 lượt xem) - Cambodia (7 lượt xem) - Nga (5 lượt xem) - Sri Lanka (2 lượt xem) - Nhật Bản (1 lượt xem) - Ivory Coast (1 lượt xem) - Đài Loan (1 lượt xem) - Latvia (1 lượt xem) - Singapore (1 lượt xem) - ... ...