Chim Việt Cành Nam            [  Trở Về   ]            [ Trang chủ ]               [ Tác giả

ISHIKAWA TAKUBOKU (1886-1912)
Phần I: Thơ Đời Lưu Lạc

Nguyễn Nam Trân

Công viên kỷ niệm Takuboku và tượng ông ở thành phố Hakodate trên đảo Hokkaidô

Dẫn Nhập:
Bài viết này có mục đích giới thiệu đời thơ của Ishikawa Takuboku (1886-1912), người từng được các nhà phê bình ca tụng như "ông hoàng của tanka", "thi nhân Nhật Bản quan trọng nhất từ Bashô trở về sau" cũng như "người xác định được chỗ đứng cho thơ mới ở Nhật". Tuy nhiên, tư liệu chứng minh chỉ tập trung vào những bài "tanka 3 hàng" trích từ hai tập thơ chính của ông là Ichiaku no Suna (Một Vốc Cát, 1910) và Kanashiki Gangu (Món đồ chơi buồn bã, 1912).

"Tanka 3 hàng" tuy cũng có trên dưới 31 âm nhưng không như tanka truyền thống vốn chỉ có 1 hàng. Đó là chưa kể sự khác biệt hoàn toàn về nội dung và mục đích. Người viết đã thử dịch chúng ra thơ lục bát cũng bằng 3 hàng (6/8/6) và đã cố gắng giữ vần điệu, một yếu tính của thơ Việt. Câu thứ 3 trong bản dịch chỉ ngắn có 6 chữ là để đáp ứng với cách kết thúc đột ngột (ochi), lơ lửng và kìm hãm (todome) thường thấy trong thơ Nhật.

Một kiếp nhân sinh ngắn ngủi
Người ta thường bảo thi nhân đời Đường có ba điều bất hạnh: nghèo như Đỗ Phủ (để con chết đói), yểu tử như Lý Hạ [1]  và lận đận vì địa vị danh vọng như Lý Thương Ẩn. Thế nhưng nhà thơ Nhật Bản Ishikawa Takuboku (1886-1912) dù một mình thôi đã hội đủ ba điều kiện nói trên.

Nhà thơ đại bất hạnh của chúng ta ra đời trong ngôi chùa Jôkôji thôn Hinoto, quận Minami Iwate, tỉnh Iwate miền đông bắc đảo Honshuu Nhật Bản vào năm 1886 (tức năm Meiji thứ 19). Tên cúng cơm là Hajime. Năm sau, cha ông vốn là một ông từ đã chuyển về chùa Hôtokuji trong thôn Shibutami gần bên. Takuboku sống chuỗi ngày thơ ấu trong thôn làng, theo học trường tiểu học Shibutami rồi sau đó lên trường trung học Morioka. Ở Morioka, ông làm quen với người bạn học lớp trên sẽ rất nổi tiếng sau này là học giả ngôn ngữ chuyên về tiếng Ainu tức Kindaichi Kyônosuke và bắt đầu chọn cái nghiệp văn chương.

Mùa thu năm thứ năm trường trung học, ông quyết định lập thân bằng ngòi bút nên thôi học, xuống Tôkyô viết tiểu thuyết và làm thơ. Vừa làm quen được những nhân vật chủ trương nhóm Shinshisha (Tân Thi Xã) như Yosano Tekkan và Akiko và có cơ hội sáng tác thì lâm bệnh, năm sau đã phải về quê. Tuy nhiên ông vẫn chuyên chú làm thơ. Đến năm Meiji 38 (1905) ông cho ra đời thi tập nhan đề Akogare (Ngưỡng vọng), ấy là lúc cha ông bị mất việc ở chùa Hôtokuji. Ông lập gia đình với người yêu thời niên thiếu là bà Horiai Setsuko [2]  và dọn nhà đi Morioka.

Cuộc sống khó khăn đưa đẩy ông về lại thôn Shibutami (1906), trở thành giáo viên phụ khuyết và bắt đầu viết thử tiểu thuyết như tập Kumo wa tensai dearu (Mây là một thiên tài). Thế nhưng lắm chuyện rắc rối liên quan đến cha ông xảy ra làm ông khổ tâm không ít. Rốt cục, ông bỏ lên đảo Hokkaidô để sống cuộc đời rày đây mai đó của một giáo viên tiểu học rồi ký giả báo Nichinichi Shinbun tỉnh Hakodate. Năm 1908, ông trở thành chủ bút tờ Kushiro Shinbun. Kushiro là tên một thành phố phía đông của đảo.

Nhân lúc đó, phong trào văn chương theo chủ nghĩa tự nhiên (Naturalism) nổi lên rầm rộ, ông lại bỏ hết công việc xuống Tôkyô hoạt động sáng tác (tháng 11 năm 1908). Tuy nhiên văn tài chưa được văn đàn và độc giả nhìn nhận, phải sống cuộc đời bần bách. Lúc đó ông mới dồn tâm lực vào tanka và đã đem đến cho dòng thơ truyền thống này một luồng gió mới khi viết về kinh nghiệm cá nhân trong cuộc sống đích thực hằng ngày. Trường phái đó được các nhà văn học sử mệnh danh là Seikatsuha (Sinh hoạt phái). Thi đàn bấy giờ mới chú ý đến ông. Cũng vào dạo ấy, ông kiếm được một chân nhân viên hiệu đính cho nhật báo Tôkyô Asahi Shinbun (1909). Đó là lúc ông trình làng thi phẩm thứ hai nhan đề Ichiaku no suna (Một vốc cát, 1910) [3] .

Giai đoạn ấy cũng là lúc sức khỏe của ông bắt đầu suy giảm. Đến năm Meiji 45 (ngày 13 tháng 4 năm 1912) thì ông qua đời ở nhà riêng xóm Koishikawa thành phố Tôkyô, lúc mới vừa 27 tuổi, đúng ra là 26 tuổi và 2 tháng. Tập di cảo Kanashiki gangu (Món đồ chơi buồn bã) đã đưa danh tiếng ông lên cao. Kể từ đó, tác phẩm của ông đã được in đi in lại nhiều lần, dưới nhiều hình thức, kể cả toàn tập 3 quyển in 8 năm sau khi ông mất.

Cát như biểu tượng của kiếp sống cô độc và vô nghĩa
Cát là một chủ đề thường thấy trong văn chương Nhật (thời Man.yô, Kasa no Iratsume đã ví cát nhiều vô số như tình yêu của bà, cát cũng thấy trong tiểu thuyết Suna no Onna của Abe Kôbô như sự tù túng và nhàm chán). Trong thơ Takuboku, đó là sự cô độc và vô nghĩa nhưng nhờ vậy mà ông cảm thấy gần gũi với cát. Bài thơ về cát thường được nhắc đến nhiều nhất của Takuboku là bài sau đây :

東海の小島の磯の白砂に
われ泣きぬれて
蟹とたわむる
(一握の沙 1)

Tôkai no kojima no iso no shirasuna ni
Ware nakinurete
Kani to tawamuru
(Ichiaku no suna 1)

Giữa biển Đông, hòn đảo côi,
Bên bờ cát trắng, mình tôi lệ nhòa,
Đàn cua bầu bạn chăng là!

Nếu bảo địa danh Đông hải trong bài thơ là nơi nào thì thực ra có nhiều thuyết nhưng thuyết cho rằng bài thơ đó hàm chứa ý tình luyến nhớ gửi về bãi biển Ômori ở Hakodate trên đảo Hokkaidô là được nhiều đồng ý nhất. Ông từng viết:

"Tôi thường đi dạo trên bãi Ômori với chúng bạn, ngửi mùi hương nồng đến từ những kè đá vùng biển bắc. Có khi đưa tay bốc nắm cát lên và nhân đó suy nghĩ về cuộc đời".

Đông hải có lẽ chỉ là một hình ảnh hư cấu lấy từ cách nói về Nhật Bản như "Đông hải quân tử quốc" ý nói một đất nước nghèo, đơn côi giữa biển, gợi lên một tình cảm sầu thương và cô độc [4] .

Bài thơ được làm ra trong thời gian ông ngụ ở nhà trọ Sekishinkan (Xích Tâm Quán) xóm Hongô giữa Tôkyô, một thời gian đầy khổ não mà kỷ niệm quê hương vùng Đông Bắc và hồi ức về cuộc sống tha phương cầu thực trên hòn đảo miền Bắc đã hằn sâu trong trí óc ông. Tất cả chừng ấy tạo nên một huyễn tưởng về "một hòn đảo hoang vu giữa biển Đông mịt mùng cát trắng" và cuộc sống nhàm chán, trống rỗng. Để chia xẻ niềm cô độc, nỗi bi thương của nhà thơ chỉ có "đàn cua" đến làm bầu bạn [5] .

しらなみの寄せて騒げる
函館の大森浜に
思いしことども
(一握の砂 318)

Shiranami no yosete sawageru
Hakodate no Ômori hama ni
Omoishi koto domo
(Ichiaku no suna 318)

Bãi xưa Hakodate,
Muôn con sóng bạc đổ về xôn xao.
Như khơi tâm sự dạt dào.

Chính trên bãi biển Ômori mà Takuboku yêu mến này có khu mộ gia đình ông dưới chân núi. Nơi đây còn chôn cả bà vợ Setsuko của ông, cũng mất sau ông (1912) ít lâu vào năm Taishô thứ hai (1913) vì bệnh lao. Bạn thân của gia đình, Miyazaki Daishirô, đã lập bia mộ và theo thủ bút nhà thơ để lại, khắc vào bia đã bài thơ tiêu biểu cho đời thơ của ông.

Ngày xưa, ông thường tìm đến đứng trước biển những khi có chuyện buồn:

大海《だいかい》にむかひて一人《ひとり》
七八日《ななやうか》
泣きなむとすと家を出《い》でにき
(一握の砂 3)

Daikai ni mukaite hitori
Nana yôka
Nakinamu tosuto ie wo ide niki
(Ichiaku no suna 3) [6]

Bỏ nhà bảy tám hôm rồi,
Một mình đứng trước trùng khơi ngút ngàn,
Khóc cho vợi bớt cơn buồn.

いたく錆《さ》びしピストル出《い》でぬ
砂山《すなやま》の
砂を指もて掘《ほ》りてありしに
(一握の砂 4)

Itaku sabi pisutoru idenu
Sunayama no
Suna wo yubi mote horite arishi ni
(Ichiaku no suna 4)

Ngón tay cào bới trên gò,
Bỗng nhiên dưới cát tình cờ chạm ngay,
Súng lục rỉ ai bỏ đây.

ひと夜《よ》さに嵐《あらし》来《きた》りて築《きづ》きたる
この砂山は
何《なに》の墓《はか》ぞも
(一握の砂 5)

Hitoyo sa ni arashi kitarite kizukitaru
Kono sunayama wa
Nani no haka zo mo
(Ichiaku no suna 5)

Thử nhìn gò cát này xem,
Hôm qua giông bão vun lên đã đầy.
Gió xây phần mộ ai đây?

砂山の裾《すそ》によこたはる流木《りうぼく》に
あたり見まはし
物《もの》言《い》ひてみる
(一握の砂 7)

Sunayama no suso ni yokotawaru ryuuboku ni
Atari mimawashi
Mono iite miru
(Ichiaku no suna 7)

Dưới chân gò cát, ngáng qua.
Một thanh củi dạt biết là từ đâu ,
Nhìn quanh, muốn hỏi đôi câu.

大《だい》という字を百あまり
砂に書き
死ぬことをやめて帰り来《きた》れり
(一握の砂 10)

Dai to iu ji wo hyaku amari
Suna ni kaki
Shinu koto wo yamete kaeri kitareri
(Ichiaku no suna 10)

Viết lên mặt cát trăm lần,
Một chữ Đại lớn rồi thầm quay đi,[7]
Thôi, chưa chết vội làm chi.

Quê hương: tình yêu và nỗi hận
Sau bài thơ nói về Đông hải và đàn cua, một bài thơ thứ hai cũng được người hâm mộ ông nhớ đến nhiều:

やわらかに柳あをめる
北上の岸辺目に見ゆ
泣けとごとくに
(一握の沙 215)

Yawaraka ni yanagi aomeru
Kitakami no kishibe me ni miyu
Nake! to gotoku ni
 (Ichiaku no suna 215)

Kitakami quê nhà,
Liễu mềm xanh thắm hiện ra trong lòng,
Khóc đi! Như nhắn ta cùng.

Nó cũng làm trong những năm tháng đói khổ, lây lất ở Tôkyô và nặng trĩu tâm sự hoài hương. Kitakami tức tên con sông chảy qua tỉnh Miyagi để đổ ra vịnh Sendai (ngang tầm bến cảng của thành phố Ishinomaki vừa bị tai nạn sóng thần hôm 11/3/2011). Màu xanh mượt mà của hàng liễu trên đê như mời mọc ông một cách dịu dàng: Hãy như liễu mà đổ lệ cho vơi bớt niềm cay đắng trong lòng vì quê hương lúc nào cũng che chở, làm điểm tựa tinh thần cho đứa con xa xứ.


Phong cảnh Kitakamigawa bây giờ

Bài này cũng được khắc vào bia đá núi quê hương đặt cạnh bờ sông Kitakami vào đúng ngày kỵ thứ 13 của nhà thơ vào năm Taishô thứ 11 (1922). Bia cao khoảng 3m và sau lưng được ghi là do một nhóm thanh niên vô danh dựng lên.

Từ khi rời thôn Shibutami, tưởng như Takuboku không hề muốn có lần trở lại vì ông từng đụng độ với những người có thế lực trong làng. Khi nhắc đến cố hương, tuy chỉ để bày tỏ cảm tình với rặng liễu quê nhà nhưng chắc muốn cho mọi người biết rằng chính liễu kia cũng từng đổ lệ vì những phức tạp của cuộc tranh chấp ấy.

石をもて追わるるごとく
ふるさとを出でし悲しみ
消ゆる時なし
(一握の沙 214)

Ishi wo mote owaruru gotoku
Furusato wo ideshi kanashimi
Kiyuru toki nashi
(Ichiaku no suna 214)

Nhớ ngày nào bước đi xa,
Như bị ném đá đuổi ra khỏi làng.
Nỗi buồn ấy vẫn còn mang.

Takuboku có lẽ hơi "mắng oan" cho những chức sắc trong làng bởi vì ở cương vị họ, thì ông đúng là con người nguy hiểm khi kêu gọi đình công để cải cách hệ thống học đường, chỉ tổ đem lại rắc rối. Thế nhưng ngay cả trong truyện ký của mình, không thấy có chi tiết nào chứng tỏ người làng đã làm khó dễ đến độ đối xử với ông như ném đá một con chó. Họa chăng là ông đã tự ý bỏ đi vì sau vụ đình công, hiệu trưởng bị mất chức còn ông thì mất việc, phải đem đồ đạc ra tiệm cầm đồ để gom đủ lộ phí. Dù sao, ông cũng không bao giờ thù ghét quê hương. Những vần thơ đầy hoài cảm sau đây đã chứng minh:

汽車の窓
はるかに北にふるさとの山見え来れば
襟を正すも
(一握の砂 245)

Kisha no mado
Harukani kita ni furusato no yama miekoreba
Eri wo tadasu mo
(Ichiaku no suna 245)

Quê hương miền bắc xa xa,
In trên dáng núi nhìn qua toa tàu
Nghiêm trang ta sửa áo chào.

Eri wo tadasu nghĩa là "sửa lại cổ áo cho tề chỉnh" nhưng là một thành ngữ ý nói thái độ trang nghiêm, thành kính.

ふるさとの山に向いて
言うことなし
ふるさとの山はありがたきかな
(一握の沙 252)

Furusato no yama ni muite
Iu koto nashi
Furusato no yama wa arigataki kana
(Ichiaku no suna 252)

Quê nhà rặng núi xa trông,
Mà sao nghèn nghẹn nói không nên lời,
Cám ơn núi lắm, núi ơi!

Ở vùng Iwate có hai rặng núi lớn là Iwate và Megami. Takuboku xem chúng như hai cánh tay người mẹ lúc nào cũng giăng ra che chở cho nên mới có tình cảm "nghẹn ngào" (iu koto nashi) và không biết nói gì hơn là "cảm tạ" (arigatô), một biểu lộ đơn sơ nhất nhưng cũng chân thành nhất.

Kiếp nghèo, nhiệt tình tuổi trẻ và thao thức về cuộc sống
Còn có một bài thơ mà hễ đã là người hâm mộ Takuboku thì ai ai cũng biết. Ông đăng nó vào tháng 8 năm Meiji 43 (1910), chỉ hai tháng sau vụ nhà văn Kôtoku Shusui (1871-1911) [8]  bị bắt về tội "đại nghịch". Vụ án này đánh dấu một sự chuyển hướng chính trị lớn đối với Takuboku:

はたらけど
はたらけど猶わが生活楽にならざり
ぢつと手を見る
(一握の沙 101)

Hatarakedo
Hatarakedo nao wa ga kurashi raku ni narazari
Jitto te wo miru
(Ichiaku no suna 101)

Làm ăn, chăm chỉ làm ăn,
Cuộc sống nhọc nhằn nào đã đổi thay,
Đăm đăm ngó xuống bàn tay.

Lúc đó Takuboku làm nhân viên hiệu đính, nôm na là giữ một chân "thầy cò" sửa bài cho tờ báo Tôkyô Asahi Shinbun, hàng tháng lãnh 25 Yen. Công việc này nhiều khi đòi hỏi phải đi làm cả ban đêm. Ông nghèo mạt, công nợ lu bù. Bài thơ bày tỏ sự bất lực và niềm uất ức của ông đối với xã hội đương thời. Nếu cuộc Duy Tân Meiji được trình bày như một biến động lịch sử đầy vẻ vang của dân tộc Nhật Bản thì người trong cuộc như Takuboku chỉ nếm trải những hậu quả tiêu cực đến từ nó. Cuối đời Meiji, với tham vọng "phú quốc cường binh", thắt lưng buộc bụng cho mục đích quân sự trên đà biến Nhật Bản thành một đế quốc như liệt cường Âu Mỹ, chính phủ đã làm ngơ trước tiếng nói của dân nghèo, nhất là vào thời điểm sau trận chiến tranh Nhật Nga (1904-05). Để chống lại guồng máy chính trị và xã hội mà ông thù ghét, Takuboku đã gióng lên tiếng chuông cảnh báo của một cá nhân đơn lẻ, khi thì hùng hồn, khi thì cảm thương nhưng luôn luôn tinh tế và độc đáo.

Một người như ông dù có cố gắng lao động để sống đến đâu vẫn không thoát ra vòng nghèo đói. Thu nhập từ nhà báo không những chẳng đủ để đón gia đình từ Hokkaidô xuống sống chung mà còn không thấm vào đâu cho mục trả nợ và tiền thuốc men vì hết người này đến người nọ trong gia đình thay nhau ngã bệnh.

京橋の滝山町の
新聞社
灯ともる頃のいそがしさかな
(一握の砂 489)

Kyôbashi no Takiyama chô no
Shinbunsha
Hi tomoru koro no isogashisa kana
(Ichiaku no suna 489)

Làm báo bận tới nhá nhem,
Kyôbashi phố lên đèn rồi sao.
Xóm Taki nhớ thuở nào.

Trong thư ông gửi cho người bạn là Miyazaki Daishirô [9]  có nhắc đến quãng thời gian đó: "Phải làm buổi chiều từ 1 giờ rưỡi cho đến 5 giờ rưỡi cho kịp báo lên khuôn" và chắc là khi dập xong bản thứ nhất thì ở Kyôbashi, nơi tòa báo Tôkyô Asahi có trụ sở, giữa tiếng máy in chạy và bóng thợ tấp nập qua lại, thành phố đã lên đèn. Takuboku có được công việc này cũng là nhờ người bạn cùng quê Morioka là Satô Shin-ichi giới thiệu. Một năm làm việc ở tòa báo vẫn không đủ ăn, ông phải nhờ người bạn khác là Kindaichi Kyônosuke giúp đỡ mới thuê được căn gác tầng hai khu Hongô, rốt cục rước vợ con trên Hokkaidô xuống sống chung.


Đôi bạn Ishikawa Takuboku (phải) và Kindaichi Kyônosuke

Trong tập thơ di cảo Kanashiki gangu (Món đồ chơi buồn bã) cũng có bài nói về cuộc sống cực nhọc thời làm báo ca đêm. Ông phải lấy chuyến xe điện cuối cùng vào một giờ sáng rồi lội bộ leo con dốc vắng để về nhà trọ:

二晩おきに
夜の一時頃の切通しの坂を上りしも
勤めなればかな
(悲しき玩具 15)

Futaban okini
Yoru no ichijigoro no kiridôshi no saka wo nobori shi mo
Tsutome nareba kana
(Kanashiki gangu 15)

Cách hai hôm lại đến phiên,
Phải leo quãng dốc, nửa đêm về nhà.
Cũng vì công việc không tha.

こみ合《あ》へる電車の隅《すみ》に
ちぢこまる
ゆふべゆふべの我のいとしさ
(一握の砂 21)

Komiaeru densha no sumi ni
Chijikomaru
Yuubeyuube no ware no itoshisa
(Ichiaku no suna 21)

Từng đêm mình xót cho mình,
Trên xe điện chật bóng hình đơn côi,
Co ro một góc thân tôi.

Chả những thế, vào giai đoạn này cha mẹ ông lại lục đục. Cha ông, một ông từ giữ chùa phái Sôtô (Tào Động) có vấn đề trong việc làm và lại giận vợ, bỏ nhà ra đi. Còn ông thì trong những ngày đó, trên đường từ tòa báo về nhà, chỉ mang trong đầu những ý nghĩ đen tối, lo rằng chẳng còn kịp ôm được đứa con đang hấp hối. Lúc bấy giờ vợ ông mới sinh con trai là Shin-ichi. Cậu bé mới sinh ra đã èo uột. Ông đưa bản thảo tập Một Vốc Cát (Ichiaku no Suna, 1910) cho nhà xuất bản và đã nhận trước 20 Yen bản quyền để thang thuốc cho con nhưng không bao lâu cậu bé chết. Như ông cho biết trong lời tựa, bản in vỗ cầm trên tay đến đúng vào đêm lễ hỏa táng. Ông có làm 8 bài thơ khóc con, đăng xen vào cuối tập Ichiaku no Suna:

夜おそく
つとめ先よりかえり来て
今死にしてふ児を抱けるかな
(一握の砂 544)

Yoru osoku
Tsutomesaki yori kaeri kite
Ima shinishite fu, ko idakeru kana
(Ichiaku no suna 544)

Về khuya từ sở làm ra,
Lo không ôm kịp con ta vào lòng.
Bé yêu sắp giũ nợ trần.

Khốn nỗi, bà Setsuko khi đang có mang Shin-ichi đã than tức ngực và từ đó ít khi rời giường bệnh. Bản thân Takuboku cũng mắc chứng viêm phúc mô. Cảnh nhà u ám, bi đát.

こころよく
我にはたらく仕事あれ
それを仕遂《しと》げて死なむと思ふ
(一握の砂 20)

Kokoro yoku
Ware ni hataraku shigoto are
Sore wo shitogete shinamu to omou
(Ichiaku no suna 20)

Ước sao làm được việc chi,
Mà mình ưng ý, xong thì mới vui.
Để khi chết, thoảng nụ cười.

Đó là khi ông bắt đầu nghĩ về cái chết và muốn sống những tháng năm còn lại sao cho có ý nghĩa. Công việc thầy cò 25 Yen một tháng không phải là mục đích một đời để mà bám víu mãi. Lẽ sống của ông là một tương lai tươi mới cho xã hội mà ông luôn tin tưởng nhưng rốt cuộc nó cũng chỉ là giấc mơ thôi:

新しき明日の来るを信ずるという
自分の言葉に
嘘はなけれど
(悲しき玩具 29)

Atarashiki asu no kitaru wo shinzuru to iu
Jibun no kotoba ni
Uso wa nakeredo
(Kanashiki Gangu 29)

Có lần mình đã thốt ra,
Một ngày mai mới quyết là không xa,
Tuy không nói dối nhưng mà…!

Ngày mai mới ấy là một xã hội tươi sáng mà cách mạng sẽ đem đến so với cái xã hội đầy mâu thuẫn và khổ não ông đang sống. Tình cảm xã hội ấy lúc đầu chỉ là một tấm lòng thương người:

友よさは
乞食の卑しさ厭うなかれ
餓る時は我も爾りき
(握お砂 91)

Tomo yosa wa
Kojiki no iyashisa itou nakare
Uetaru toki wa ware mo shikariki
(Ichiaku no suna 91)

Cái nghèo đâu đáng khinh chê,
Bạn ơi đừng tởm đừng ghê ăn mày,
Khi đói ta cũng thế này.

Người có tư tưởng xã hội như ông thành tâm mong đợi cái ngày tươi sáng ấy nhưng ông e rằng niềm tin của ông khó lòng thực hiện nổi và câu nói cả quyết của ông rốt cục rồi sẽ chỉ là một lời nói dối. Về cá nhân ông, đó là một tình cảm bất lực trước thời cuộc.

Từ khi đăng thơ trên tạp chí Myôjô (Sao sáng, chỉ sao Kim, Venus) ông có tiếng tăm như một nhà thơ lãng mạn và trở thành một cây bút tiêu biểu của phong trào chủ nghĩa tự nhiên. Thế nhưng chủ nghĩa tự nhiên lại thiếu xã hội tính và không có ý thức phê phán dù đứng trước thực trạng đương thời. Thêm vào đó là cái án "đại nghịch" gán cho Kôtoku Shusui. Tất cả gây xúc động cho Takuboku và đã đẩy ông đi tới chỗ cực đoan về mặt tư tưởng.

Khi ngước mắt nhìn lên cảnh tuyết mùa xuân rơi nhẹ trên đường phố Ginza gần tòa báo 3 tầng gạch đỏ nơi ông làm việc, ông chỉ thấy nó đáng tội nghiệp. Hoa tuyết nhẹ nhàng tinh khiết không còn đủ sức gột rửa những nỗi đau khổ của cuộc đời cũng như tâm hồn trong trắng của ông đã mệt nhoài khi bị lấm lem trong bùn nhơ xã hội :

春の雪
銀座の裏の三階の煉瓦造り
やらわかに降る
(一握の砂 453)

Haru no yuki
Ginza no ura no sangai no rengazukuri
Yawaraka ni furu
(Ichiaku no suna 453)

Dịu dàng tuyết trắng mùa xuân,
Rơi trên nhà gạch ba tầng Ginza
Phố sau lưng ( tòa báo ta).

よごれたる煉瓦の壁に
降りて融け降りて融くる
春の雪かな
(一握の砂 454)

Yogoretaru renga no kabe ni
Furite toke furite tokuru
Haru no yuki kana
(Ichiaku no suna 454)

Trên tường gạch bẩn ố màu,
Tuyết tinh khôi vẫn thi nhau nối hàng.
Rơi, tan, rồi lại rơi, tan.


Bia kỷ niệm Takuboku nằm giữa phố Ginza nơi xưa ông làm báo

Một năm trước khi chết ông có viết một chùm thơ 17 bài bắt đầu bằng một câu rất lạ là "Nếu nuôi mèo" (Neko wo kaeba). Thực ra gia đình ông đã có nhiều vấn đề khổ tâm và đầy sự bất hòa, chuyện nhà có nuôi thêm một con mèo làm bạn chỉ là cái cớ để những bực bội tiềm ẩn có dịp bùng nổ:

猫を飼わば
その猫がまた争いの種となるらむ
かなしきわが家
(悲しき玩具 179)

Neko wo kawaba
Sono neko ga mata arasoi no tane to naru ramu
Kanashiki wa ga ya
(Kanashiki Gangu 179)

Kiếm một chú mèo mà nuôi,
Là mua tranh cãi về thôi khác gì.
Cảnh nhà nghĩ lại buồn ghê.

Hoài niệm thuở hoa niên
Những khi ấy, ông chỉ còn bám víu vào thiên nhiên sau khi đã thất vọng với con người. Ông có mượn một câu nói của Lord Byron trong Childe Harold (nhà nghiên cứu Mori Hajime cho rằng ông đã chép lại sai văn phạm) là: I love the man but the nature more (Tôi yêu con người nhưng còn yêu thiên nhiên hơn cả tình yêu đối với con người) để giải bày tâm sự. Bài thơ sau đây khá nổi tiếng:

かにかくに渋民は恋しかり
おもいでの山
おもいでの川
(一握の砂 210)

Kanikaku ni Shibutami mura wa koishi kari
Omoide no yama
Omoide no kawa
(Ichiaku no suna 210)

Thôn xưa Shibutami,
Giận hờn vẫn rứt không đi, quê mình.
Nhớ sông nhớ núi bao tình.

Kanikaku ni diễn tả ý "có biết bao điều rắc rối đã xảy ra". Dù mang những mối hận lòng nhưng quê hương là chỗ đáng yêu hơn cả. Ngày nay, các chuyến xe hỏa về miền Đông Bắc không còn ghé lại nhà ga xép của thôn Shibutami, nơi Takuboku từng sống suốt một thời niên thiếu, quê hương mà ông đã đem hình ảnh theo mình suốt cuộc đời. Con sông ông nói trong thơ chắc phải là sông Kitakami uốn khúc yểu điệu và ngọn núi là núi Megami xinh đẹp như một nữ thần, đã ôm ấp cái thôn nghèo nhỏ bé nằm dọc đường xe hỏa ấy.

Những ngày xưa thân ái thật khó phai mờ:

知らぬ家《いへ》たたき起して
遁《に》げ来《く》るがおもしろかりし
昔の恋しさ
(一握の砂 53)

Shiranu ie tatakiokoshite
Nigekuru ga omoshirokarishi
Mukashi no koishisa
(Ichiaku no suna 53)

Đập cửa nhà lạ nghịch chơi,
Đánh thức họ dậy thế rồi chuồn nhanh.
Nhớ sao thời trẻ bọn mình.

Takuboku từng giữ chân giáo viên trường tiểu học thôn Shibutami- cũng là trường cũ của ông - với đồng lương bạc bẽo 8 Yen một tháng. Điều đó có nghĩa là ông đã tìm về đặt chân lại trên mặt quê hương một lần từ bỏ. Đây là bài thơ đánh dấu ngày trở về, khi vừa xuống ga Shibutami, chân đạp rào rạo trên con đường chưa tan hết băng giá, với một tâm sự phức tạp: chân lâng lâng mà lòng nặng trĩu. Ông cũng gửi tâm sự của thời trẻ vào hình ảnh của một hòn đá bị vứt bỏ và quên lãng bên đường:

ふるさとの土をわが踏めば
何かなしに足軽くなり
心重れり
(一握の砂 246)

Furusato no tsuchi wo wa ga fumeba
Nani kanashi ni ashi karoku nari
Kokoro omoreri
(Ichiaku no suna 246)

Khi vừa về đến quê nhà,
Lâng lâng nhẹ bước, lòng ta vẫn buồn,
Chút chi nằng nặng trong hồn.

ふるさとの
かの路傍の捨石よ
今年も草に埋もれしらむ
(一握の砂 204)

Furusato no
Kano michibata no suteishi yo
Kotoshi mo kusa ni uzumoreshi ramu
(Ichiaku no suna 204)

Quê hương hòn đá bên đường,
Ngày xưa vứt bỏ, hỏi còn đó không?
Khéo là vùi dưới cỏ hoang!

Suteishi là hòn đá bị vứt bỏ, nghĩa bóng là vật hy sinh. Tâm sự của Takuboku đối với cố hương là thế. Mượn hình ảnh hòn đá bên đường thuở bé chơi đùa để ký thác lòng mình.

Quê hương ám ảnh cả lúc ông đã lên lập nghiệp ở Tôkyô. Tương truyền, Takuboku thường ra ga Ueno nơi người vùng Đông Bắc đáp tàu xuống, trà trộn vào đám đông tìm nghe âm sắc và ngữ vựng quê hương trong tiếng nói của đồng hương:

ふるさとの訛なつかし
停車場の人ごみの中に
そを聴きにゆく 
(一握の砂 199)

Furusato no namari natsukashi
Teishaba no hitogomi no naka ni
So wo kiki ni yuku
(Ichiaku no suna 199)

Cố hương lòng nhớ khôn nguôi,
Bến xe chen giữa sóng người ngược xuôi,
Tìm nghe giọng nói quê tôi.

Ta càng thông cảm hơn nữa khi biết lúc ấy ông đang sống một quãng đời bất hạnh nhất: tiền bạc không có, bệnh hoạn liên miên, thơ và tiểu thuyết viết ra chưa ai chú ý. Cố hương dù chỉ qua thổ âm của những đồng hương vô danh vẫn là điểm tựa tâm hồn, là niềm an ủi vô biên cho một con người đang tuyệt vọng.

そのかみの神童の名の
かなしさよ
ふるさとに来て泣くはそのこと
(一握の砂 250)

Sono kami no shindô no na no
Kanashisa yo
Furusato ni kite naku wa sono koto
(Ichiaku no suna 250)

Khi ta về đến quê nhà,
Có rưng nước mắt chỉ là thương thân.
Tuổi thơ lỡ tiếng thần đồng.

Thời trẻ nổi tiếng thần đồng vì đi học sớm một năm, trên ghế tiểu học vẫn tranh đua với bạn Kudô Chiyoji để đứng đầu lớp, thế mà đến khi vào trường trung học Morioka thì dần dần tụt hạng xuống gần chót. Vì mãi lo yêu đương hay vì không tin tưởng vào những gì tiếp nhận từ giáo dục nhà trường? Hoặc giả Takuboku đã đến tuổi đi vào qui luật "Mười tuổi thần đồng, mười lăm thiên tài, quá hai mươi thành cái anh làng nhàng" [10]  như câu nói vẫn thấy trên cửa miệng của người bình dân Nhật Bản?

Đó là những ngày nhảy cửa sổ lớp học trốn đi chơi:

教室の窓より遁げて
ただ一人
かの城山に寝に行きしかな
(一握の砂 158)

Kyôshitsu no mado yori nigete
Tada hitori
Kano shiroyama ni ne ni yukishi kana
(Ichi aku no suna 158)

Phóng qua cửa sổ ra ngoài
Những ngày trốn học đi chơi một mình.
Ngủ trên núi dưới chân thành.

Núi có thành (núi thành, shiroyama) là ngọn núi nằm ở phía nam Morioka có thành Kozukata (Bất Lai Phương, tên một lãnh chúa đã xây nó lên) là nơi ông thường đơn độc tìm đến để gặm nhắm nỗi buồn cô đơn của những ngày mới lớn và cũng để hưởng trái cấm đầu tiên tức là nếm mùi thuốc lá:

城跡の
石に腰掛け
禁制の木の実をひとり味わひしこと
(一握の砂 165)

Shiroato no
Ishi ni koshikake
Kinsei no ko no mi wo hitori ajiwaishi koto
(Ichi aku no suna 165)

Trên bậc đá góc thành xưa,
Ta ngồi nếm cỏ tương tư tuyệt vời.
Vị trái cấm buổi đầu đời.

不来方のお城の草に寝ころびて
空に吸われて
十五の心
(一握の砂 159)

Kozukata no o shiro no kusa ni nekorobite
Sora ni suwarete
Juugo no kokoro
(Ichi aku no suna 159)

Dưới chân Kozu thành cao
Nằm lăn trên cỏ, hút vào không gian,
Tâm tình của tuổi mười lăm


Bia đá khắc bài "Kozukata no o-shiro" ở công viên tỉnh Iwate

Lúc đó Takuboku mới là học sinh cuối năm thứ ba thế mà ông đã tham dự một cuộc bãi khoá của các lớp năm thứ 3 và thứ 4 để đòi đổi mới việc học. Vì sự kiện này mà tỉnh trưởng phải can thiệp và hạ lệnh 24 giáo viên trong số 28 người từ hiệu trưởng trở xuống ngưng chức, đổi nhiệm sở hay tự ý xin thôi việc. Người chủ trương, một học sinh năm thứ ba bị đuổi khỏi trường. Takuboku cùng một số bạn học năm thứ 3 có viết kiến nghị chống lại lối giải quyết đó.

Bầu máu nóng này chỉ có vài năm sau đã nguội lạnh khi ông cảm thấy sự bất lực của mình. Ông đã viết:

ストライキ思い出でても
今は早や我が血躍らず
ひそかに淋し
(一握の砂 171)

Sutoraiki omoide dete mo
Ima wa haya wa ga chimodorazu
Hisokani samishi
(Ichiaku no suna 171)

Kỷ niệm bãi khoá trong trường,
Hết còn khơi dậy nhiệt cuồng trong ta.
Có chăng là vị xót xa!

Sau vụ đình công bãi khóa, lên năm thứ 5 thì Takuboku nghỉ học. Sắp tốt nghiệp mà phải thôi học, không ai biết chắc là lý do gì. Áp lực nhà trường, tình yêu với Setsuko làm ông chia trí, học lực suy thoái, hay nỗi chán đời? Thế nhưng bốn năm rưởi của cái thời đi học ở Trung học Morioka để lại cho ông nhiều kỹ niệm không gì có thể thay thế được nên ông chỉ muốn xin về ngả lưng lên thành lan can của bao lơn trường cũ thêm một lần nữa:

盛岡の中学校
露台の
欄干に最一度われをよらしめ
(一握の砂 172)

Morioka no chuugakkô,
Barukon [11]  no
Tesuri ni mo ichido ware wo yorashime
(Ichiaku no suna 172)

Cho ta về tựa bên thành,
Bao lơn trường cũ một lần nữa thôi,
Morioka trung học ơi!

学校の図書庫の裏の秋の草
黄なる花咲きし
今お名知らず
(一握の砂 167)

Gakkô no toshogura no ura no aki no kusa
Ki naru hanasakishi
Ima no na shirazu
(Ichiaku no suna 167)

Đằng sau thư viện trường xưa,
Cỏ thu bao độ nở hoa sắc vàng,
Tên cỏ nay vẫn chưa tường.


Căn nhà cũ (đã tu bổ) của vợ chồng Takuboku hồi mới cưới ở Morioka

Còn về số phận những người bạn cùng học thì cũng không mấy sáng sủa:

友はみな或る日四方に散り行きぬ
その後八年
名挙げしもなし
(一握の砂 196)

Tomo wa mina aru hi shihô ni chiri yukinu
Sono nochi yatoshi
Na ageshi mo nashi
(Ichiaku no suna 196)

Bạn ta từ biệt mái trường,
Tung bay bốn hướng tìm đường công danh,
Tám năm trôi, chẳng ai thành [12] .

Khó lòng hiểu tâm trạng lưu luyến mái trường xưa thật đặc biệt của ông nhưng có lẽ chốn đó là nơi đã chứng kiến mối tình của ông với Horiai Setsuko, sau này sẽ là người vợ chia sẻ cuộc đời đầy hoạn nạn của ông, là nơi ông nuôi dưỡng giấc mộng văn chương và quen biết bao nhiêu bạn quí hóa như Kindaichi Kyônosuke, Miyazaki Ikuu, Satô Shin-ichi.... Ông còn trân trọng đến cả những bạn bè không mấy thân thiết như người sau này trở thành kiểm soát viên hỏa xa mà ông tình cờ gặp lại trong một chuyến đi ở Hokkaidô

かの旅の汽車の車掌が
ゆくりなくも
我が中学の友なりしかな
(一握お砂 155)

Kano tabi no kisha no shashô ga
Yukuri naku mo
Wa ga chuugaku no tomo narishi kana
(Ichiaku no suna 155)

Anh chàng soát vé hỏa xa,
Không hẹn mà gặp chính là bạn xưa,
Thời trung học ở quê nhà.

Người ta ngờ rằng đó là Furuki Takashi, khi xưa cũng yêu thích và nuôi mộng văn chương như Takuboku nhưng sau này phải làm nghề soát vé trên xe lửa. Thế thì bài thơ trên cũng phản ánh phần nào cái "bất đắc chí" của một kiếp nhân sinh trong giới thanh niên thời đó tuy nghề soát vé xe lửa đâu phải là một nghề không lương thiện và vô ích đối với xã hội. Chữ "Yukuri naku" ngoài ý nghĩa "giun rủi được gặp lại bạn cũ" cũng còn có ý nói đến cái "giun rủi của vận mệnh" trong mỗi cuộc đời. Có thể xem bài thơ này tượng trưng được đặc tính "vô cớ thương người" (vô duyên đại bi tâm) trong dòng thơ cảm thương của Takuboku.

Còn anh Kuudô Chiyoji nữa kia, ngày xưa trên ghế trường tiểu học có tiếng học giỏi, từng tranh nhau đứng đầu lớp với Takuboku, nay đã ra sao?

小学校の主席を我と争いし
友のいとなむ
木賃宿かな
(一握の砂 218)

Shôgakkô no shuseki wo wa to arasoi shi
Tomo no itonamu
Kichinyado kana
(Ichiaku no suna 218)

Bạn tiểu học ở trường làng,
Cùng ta tranh nhất, nào nhường ai hơn.
Nay mở nhà trọ kiếm cơm

Kuudô Chiyoji làm nhân viên hành chánh trong thôn, mở loại quán trọ hạng rẻ gọi là kichinyado, nơi đó cho phép khách đến chỉ mang gạo và củi để đổi lấy chỗ qua đêm. Thời dạy học, Takuboku thường cho học trò tới nhà Chiyôji vay gạo.

Bài tương tự sau đây thấy trong Wasuregataki hitobito (Những người khó quên) ở phần cuối tập Ichiaku no suna (Một vốc cát) nói về một người bạn khác đã gặp lại thời kỳ ông làm báo ở Kushiro, một tỉnh hẻo lánh trên đảo Hokkaidô. Theo nhật ký của ông, người ấy là Satô Iwao từng ở chung nhà trọ ở khu Kanda (Tôkyô). Đó là cảnh người lưu lạc xót thương người lưu lạc:

顔とこゑ
それのみ昔と変らざる友にも合いき
国の果てに
(一握の砂 386)

Kao to koe
Sore nomi mukashi to kawarazaru tomo ni mo aiki
Kuni no hate nite
(Ichiaku no suna 386)

Giọng nói với khuôn mặt thôi,
Là còn như cũ cái thời trọ chung,
Gặp anh ở chốn hải tần.

Lại cát và sự chán nản
Ngoài Morioka, Takuboku cũng có thời lang bạt kiếm sống ở Hokkaidô, trước dạy học [13] , sau làm báo. Thành phố biển Hakodate ấy như thể quê hương thứ hai của ông. Nơi ấy ông để lại nhiều kỷ niệm. Trong Ware wo aisuru uta (Tự thương ca) tức chương thứ nhất của Ichiaku no suna (Một vốc cát) ông có viết những bài thơ về những ngày lang thang trên bãi cát dài Ômori:

砂山の砂に腹這《はらば》ひ
初恋の
いたみを遠くおもひ出《い》づる日
(一握の砂 6)

Sunayama no suna ni harabai
Hatsukoi no
Itami wo tôku omoi izuru hi
(Ichiaku no suna 6)

Sấp mình đụn cát ta nghe,
Từ nơi xa vắng buồn về ghé thăm,
Tình đầu còn để đau ngầm.[14]

頬《ほ》につたふ
なみだのごはず
一握《いちあく》の砂を示《しめ》しし人を忘れず
(一握の砂 2)

Ho ni tsutau
Namida nogowazu
Ichiaku no suna wo shimeshishi hito wo wasurezu
(Ichiaku no suna 2)

Làm sao quên được người kia,
Không buồn quệt má, đầm đìa lệ rơi,
Trao ta xem vốc cát thôi.

Bãi Ômori ngày nay còn có công viên kỷ niệm nhà thơ và một bức tượng đồng của ông ngồi chống cằm suy tư. Bên bờ đường vẫn còn những hàng rào bằng hoa hamanasu (dã tường vi, sweetbrier) hay hoa hồng biển, cùng họ với hoa tầm xuân (brier) ở Việt Nam. Có lẽ nó hơi xa lạ với chúng ta nhưng là loài hoa quen thuộc vùng duyên hải Nhật Bản và từng thấy nhiều lần trong thơ Takuboku:


Hoa hamanasu

潮かおる北の浜辺の
砂山のかの浜薔薇よ
今年も咲けるや
(一握の砂 304)

Shio kaoru kita no hamabe no
Sunayama no kano hamanasu yo
Kotoshi mo sakeru ya
(Ichiaku no suna 304)

Hồng biển trên đụn cát xưa,
Năm nay còn thắm bên bờ sóng khơi?
Hương triều miền bắc xa xôi.

Ông có vẻ như đồng cảm với những hạt cát vô tri vô giác, muốn cất tiếng kêu gọi nhưng chúng cứ hờ hững trôi đi cùng với thời gian, có muốn giữ cũng không sao giữ được:

いのちなき砂のかなしさよ
さらさらと
握《にぎ》れば指のあひだより落つ
(一握の砂 8)

Inochi naki suna no kanashisa yo
Sarasara to
Nigireba yubi no aida yori otsu
(Ichiaku no suna 8)

Cát kia không kiếp, đến buồn,
Vốc lên, len ngón tay tuôn rào rào.
Muốn cầm, có giữ được nao.

Nước mắt là tượng trưng cho tấm lòng yêu cuộc sống và gắn bó với sinh mệnh dù cuộc sống đem đến cho mình đầy khổ não. Cát kia thấm hết nước mắt của con người đọng thành một khối làm cho ta thấy sức nặng của cuộc đời. Nhà thơ than khóc cho sự sống đã theo giọt nước mắt ra đi. Thế nhưng cát cũng là hình ảnh của sự trở về bởi vì điểm khởi hành và chung cuộc của con người chỉ là cát bụi.

しっとりと
なみだを吸《す》へる砂の玉
なみだは重きものにしあるかな
(一握の砂 9)

Shittori to
Namida wo / sueru suna no tama
Namida wa omoki mono ni shi aru kana
(Ichiaku no suna 9)

Dịu dàng thấm hộ hết rồi,
Bao nhiêu ngọc cát khô vơi lệ người.
Nặng chi đến thế lệ ơi.

Tình yêu gia đình
Cùng một thời kỳ viết bài thơ nhớ về hòn đảo trơ vơ bên bờ biển Đông (1908), ông cũng viết bài thơ sau đây từ ngôi nhà trọ Sekishinkan (Xích Tâm Quán) phố Hongô ở Tôkyô, nơi mà hình ảnh cha mẹ trên miền Bắc vẫn hiện về trong tâm trí:

燈影《ほかげ》なき室《しつ》に我あり
父と母
壁のなかより杖《つゑ》つきて出《い》づ
(一握の砂 13)

Okage naki shitsu ni ware ari
Chichi to haha
Kabe no naka yori / tsue tsukite izu.
(Ichiaku no suna 13)

Gian phòng không ánh đèn lu,
Chập chờn chống gậy lù dù bước ra,
Trên tường bóng mẹ bóng cha.

Cha mẹ ông không có mặt trong gian phòng trọ, hình ảnh của họ chỉ là một huyễn tưởng  in lên vách. Nhà thơ lúc đó với nỗi cô đơn tuyệt vọng của một kẻ chiến bại đang đối diện một hiện thực tối tăm, không thấy tương lai. Những năm tháng ấy, khi nghe tin đứa con gái Kyôko ở với mẹ trên Hakodate bị bệnh bạch hầu (diphtheria) đang hấp hối rồi chết, ông cũng không có phương tiện về thăm.

Bài thơ sau đây viết năm 1910 cũng chung một dòng thơ của hai năm về trước khi tác giả nhớ về mẹ già. Ở xa, ông không có cách gì để đền đáp công ơn dưỡng dục và như thế, mỗi lần nghĩ đến chỉ có thể cất lên một tiếng than dài.

たはむれに母を背負《せお》ひて
そのあまり軽《かる》きに泣きて
三歩あゆまず
(一握の砂 14)

Tawamure ni haha wo seoite
Sono amari karuki ni nakite
Sanpo ayumazu.
(Ichiaku no suna 14)

Đùa vui cõng mẹ dạo chơi
Sao thân mẹ nhẹ tơi bời dạ con,
Chưa đầy ba bước, lệ tuôn.

Mặc cảm mình đã làm khổ mẹ già xiết bao cũng thấy qua bài thơ dưới đây khi ông cầm hòn đất trên tay và vẽ ra khuôn mặt mẹ đang rơi lệ:

ひと塊《くれ》の土に涎《よだれ》し
泣く母の肖顔《にがほ》つくりぬ
かなしくもあるか
(一握の砂12)

Hito kure no tsuchi ni yodare shi
Naku haha no nigao tsukurinu
Kanashiku mo aru ka
(Ichiaku no suna 12)

Có chi sánh được nỗi buồn,
Khi đem nước bọt nắn hòn đất chơi,
Vẽ cảnh mẹ lệ đang rơi .

Mẹ Takuboku chết vì bệnh lao trước ông một tháng. Còn cha ông là người đã túc trực bên giường lúc ông lâm chung. Tình cảm đối với người cha thiếu may mắn trong cuộc đời cũng rất đằm thắm:

ふるさとの父の咳《せき》する度《たび》に斯《か》く
咳の出《い》づるや
病《や》めばはかなし
(一握の砂 16)

Furusato no chichi no seki suru tabi ni kaku
Seki no izuru ya
Yameba wa kanashi
(Ichiaku no suna 16)

Với cha lúc ở quê nhà,
Khi ông húng hắng là ta nghĩ thầm
Đời bệnh hoạn quả là buồn.

Tấm lòng thương yêu gia đình còn được bày tỏ qua tình cảm đối với vợ nhà, bà Setsuko. Tuy nhiên, cử chỉ âu yếm đó cũng lồng trong tình cảm khổ đau tủi cực vì sự nghiệp thua kém bạn bè. Những bạn học thời Trung học Morioka đều vinh hiển hay ấm thân, chỉ riêng mình rách nát vẫn hoàn rách nát. Tặng hoa, món quà thanh cảnh, cho vợ cũng là để tự an ủi mình và cảm ơn cái người đã cùng mình chia sớt cảnh nghèo:

友がみなわれよりえらく見ゆる日
花を買い来て
妻としたしむ
(一握の砂 128)

Tomo ga mina ware yori eraku miyuru hi
Hana wo kaikite
Tsuma to shitashimu
(Ichiaku no suna 128)

Thấy bao đứa bạn chung trường,
Hơn ta, thông suốt trên đường công danh.
Bèn mua hoa tặng vợ mình.


Vợ chồng Ishikawa Takuboku và Setsuko

Về cô em gái đã quá tuổi lấy chồng mà ông vô tình đọc được một lá thư để trên bàn không đề tên người nhận mà lời lẽ bên trong giống như một bức thư tình:

朝はやく
婚期《こんき》を過ぎし妹の
恋文《こひぶみ》めける文《ふみ》を読めりけり
(一握の砂 69)

Asa hayaku
Konki wo sugishi imôto no
Koibumi mekeru fumi wo yomerikeri
(Ichiaku no suna 69)

Sáng ra mới lướt mắt qua,
Tờ thư gì viết như là tình thư
Của con em đã lỡ thời.

Về cảnh nhà nặng nề sầu thảm:

雨降れば
わが家《いへ》の人|誰《たれ》も誰も沈める顔す
雨|霽《は》れよかし
(一握の砂 49)

Ame fureba
Wa ga ie no hito tare mo tare mo shizumeru kao su
Ame / hareyo ka shi
(Ichiaku no suna 49)

Mỗi lần nhìn cảnh mưa rơi,
Người nhà ủ dột như trời nặng mây
Mưa ơi, sao chẳng tạnh ngay!

Nhớ về miền bắc và những bạn bè thất chí
Trong chương Wasuregataki hitobito (Những người khó quên) của tập Ichiaku no suna (Một vốc cát) còn có bài thơ như sau nhớ về phong cảnh cuộc sinh hoạt thời ở Hokkaidô. Bài thơ tả cảnh một đêm thu khi trời về khuya ở Sapporo, lúc ông dọn nhà từ Hakodate qua (tháng 9 năm 1907), giữa phố khuya bỗng thơm mùi ngô nướng, món quà dân dã:

しんとして幅広き街の
秋の夜の
玉独黍の焼くるにおいよ
(一握の砂 339)

Shintoshite haba hiroki machi no
Aki no yo no
Tômorokoshi no yakuru nioi yo
(Ichiaku no suna 339)

Đêm thu đường vắng rộng thênh,
Trời khuya lạnh giá bốc lên thơm nồng,
Mùi ngô nướng, nhớ khôn cùng.

Thơ viết theo thì hiện tại nhưng nội dung là sự kiện xảy ra trong quá khứ. Hình ảnh xóm Aogayi (Aoyagichô = Xóm Liễu Xanh) ở Hakodate cũng vậy. Ta lại thấy trong chương
"Những người khó quên" bài thơ sau đây:

函館の青柳町こそかなしけれ
友の恋歌
矢車の花
(一握の砂)

Hakodate no Aoyagichô koso kanashi kere
Tomo no koiuta
Yaguruma no hana
(Ichiaku no suna)

Đời tuy nghèo, nhớ năm xưa,
Bạn văn vẫn thích làm thơ ái tình.
Màu hoa cúc, xóm liễu xanh.

Takuboku đến ở Xóm Liễu Xanh trong một gian nhà nhỏ 8 tấm chiếu từ mùa hè năm 1907 nhờ sự giúp đỡ của Miyazaki Daishirô. Ông cảm thấy như thoát nạn. Những người bạn cùng chí hướng trao đổi thơ văn với ông là niềm vui nhỏ bé trong những ngày tháng sống ở đấy. Có thể họ là những người đã cùng ông lập ra tạp chí Beni no Umagoyashi (Beni no bokushuku, Hồng mục túc) chuyên thảo luận quanh hai đề tài: văn chương và luyến ái. Umagoyashi, theo cái tên "mục túc" của nó, là một loài hoa mọc nơi hoang dã, khí hậu khắc nghiệt (từng thấy trong thơ biên tái đời Đường). [15]
.
Và ở xóm liễu đó còn có hoa yaguruma, biểu tượng của cuộc sống bình yên dù chỉ là tạm bợ ấy. Hoa yaguruma tương tự yagurumagiku (blue cornflower, bluebottle) được định nghĩa là một loại hoa mùa hạ thuộc họ cúc, thân cây cao 90cm có lông tơ trắng, hoa nhỏ phần nhiều màu vàng nhạt, có năm cánh làm thành tán tròn. Hoa hay mọc chỗ có bóng râm trong núi. Lá dùng được để hút thay thuốc lá. Có thể là một loài hoa thường thấy ở thành phố miền bắc này. Có nhà từ điển dịch sang tiếng Việt dịch là hoa mua, hoa thỉ xa cúc nhưng chắc nên dùng chữ thanh cúc hợp hơn.

Những người bạn ăn to nói lớn, bàn toàn những vấn đề trọng đại (tráng ngôn đại ngữ) như văn chương và luyến ái thật ra cũng là những tâm hồn bất đắc chí, chỉ biết mượn men rượu để nguôi ngoai:

こころざし得ぬ人々の
あつまりて酒のむ場所が
我が家なりしかな
(一握の砂 329)

Kokorozashi wo enu hitobito no
Atsumarite sake nomu basho ga
Wa ga ie narishi kana
(Ichiaku no suna 329)

Nhà ta lại biến thành nơi,
Cho người thất chí hận đời tìm quên.,
Tụ họp nhau mượn hơi men.

かなしめば高く笑いき
酒をもて
悶を解すという年上の友
(一握の砂 330)

Kanashimeba takaku waraiki
Sake wo mote
Mon wo gesu to iu toshiue no hito
(Ichiaku no suna 330)

Càng đau khổ cười càng dòn,
Người bạn già dấu nỗi buồn khôn nguôi.
Đem men rượu giải sầu đời.


Bia đề thơ Takuboku trước ga Morioka

十年まえに作りしといふ漢歌を
酔えば唱えき
旅に老いし友
(一握の砂 405)

Totose mae ni tsukurishi toifu karauta wo
Yoeba utaeki
Tabi ni oishi tomo
(Ichiaku no suna 405)

Có người bạn, say lại ngâm,
Bài thơ chữ Hán mười năm trước làm,
Đời già theo kiếp lang thang.

Thời lưu lạc ở Hakodate còn có những nỗi buồn khác như lần bà Setsuko, vợ ông, địu con gái mới lên ba là bé Kyôko ra ngoài bến xe đưa nhà thơ đi làm xa. Lúc đó Takuboku là ký giả cho tờ nhật báo ở Otaru, một thành phố nhỏ trên đảo nhưng bị chủ báo hành hung, dồn vào thế phải xin nghỉ việc và đổi nhiệm sở, một mình đi Kushiro, để vợ con ở lại Otaru:

子を負いて
雪の吹き入る停車場に
われ見送りし妻の眉かな
(一握の砂 361)

Ko wo oite
Yuki no fuki iru teishaba ni
Ware miokuri shi tsuma no mayu kana
(Ichiaku no suna 361)

Địu con ra đứng ngoài ga,
Tuyết vùi gió dập tiễn ta đi làm.
Nét mày em, nhớ vô vàn!

Tuyết vùi gió dập không chỉ là cảnh tượng ngoài trời. Nó là hình ảnh bi thảm nói chung của gia đình của họ. Tại sao lại là nét mày ? Thơ Takuboku tài tình ở chỗ khi ông thu gọn tất cả cái đẹp và nỗi buồn vào một điểm nhỏ (shôryaku no myô = tỉnh lược chi diệu). Đôi mày xanh mướt trẻ trung đầy tình quyến luyến của người vợ phải xa chồng hay đôi mày đang chau vì chất chứa nỗi sầu đời trên đôi mắt nhìn đăm đăm vào mắt ông, người không đếm xỉa gì đến vợ con, tự tiện bỏ nhà ra đi sống theo ý mình.


Bia đá đề thơ kỷ niệm Takuboku ở Kushiro

Trên chuyến xe lửa từ Otaru đi Kushiro, ông ngồi đọc truyện ngắn của Tourgueniev [16]  trong khi qua cửa kính, ngoài trời mưa lạnh lẫn vào trong những bông tuyết đang tan để thấy đâu đây hình ảnh rất lãng mạn của nhà văn Nga, người to lớn, vai đeo súng săn, đang lầm lũi bước trên thảo nguyên bạt ngàn. Khung cảnh Hokkaidô thời ấy cũng bao la rộng rãi và lạnh lẽo như khung trời Bắc Âu:

みぞれ降る
石狩の野の汽車に読みし
ツルゲエネブの物語かな
(一握の砂 364)

Mizore furu
Ishigari no no no kisha ni yomishi
Tsurugeenebu no monogatari kana
(Ichiaku no suna 364)

Tàu xuyên qua cánh đồng không,
Bên ngoài mưa với tuyết cùng nhau rơi.
Tourgueniev, đọc bồi hồi.


Văn hào Nga Ivan S. Turgenev (Tourgueniev)

Không biết ông đang cầm quyển sách nào của Tourgueniev và do ai dịch (có sác xuất lớn là bản dịch của Futabatei Shimei, một trong những dịch giả trực tiếp từ Nga văn hiếm hoi thời đó) nhưng ông có vẻ cảm động vì tác phẩm của nhà văn mà ông chia sẻ phần nào lối nghĩ.

Trên đường đi, ông có xuống ga Iwatezawa ở nhà người anh họ một đêm rồi hôm sau mới đến Asahigawa, lại ngủ trọ một đêm nữa, hôm sau mới đặt chân lên Kushiro. Ông đã tả lại khung cảnh của hải cảng nổi tiếng về nghề đánh cá mòi từ thời Edo và nhìn ra Thái Bình Dương đó như sau:

空知川雪に埋もれて
鳥も見えず
岸辺の林に人ひとりいき
(一握の砂 376)

Sorachigawa yuki ni umorete
Tori mo miezu
Kishibe no hayashi ni hito hitori iki.
(Ichiaku no suna 376)

Trời cao tuyệt hết bóng chim
Rừng bên kè đá, một mình ai đi.
Dòng sông tuyết lấp đã dày.

Nhìn dõi về xa không thấy dấu vết một con chim nhỏ mà con sông Sorachigawa cũng đã bị vùi trong tuyết. Chỉ có bóng ai đó đơn độc đi vào khu rừng bên kè đá bờ sông. Phong cảnh miền bắc còn hùng vĩ hơn nữa nhất là khi chiều xuống:

うす紅く雪に流れて
入日影
あら野の汽車の窓を照らせり
(一握の砂 368)

Usu kurenaku yuki ni nagarete
Irihikage
Arano no kisha no mado wo teraseri
(Ichiaku no suna 368)

Mặt trời chiều nhuộm thật hồng,
Một vùng tuyết giá giữa đồng hoang vu,
Ánh lên cửa sổ toa tàu.

Kushiro đương thời là nhà ga cuối cùng trên tuyến đường miền bắc nên được con người phiêu bạt như Takuboku xem như là chỗ cuối đất cùng trời. Đây là phong cảnh lúc đêm về, khi ông đặt chân lên thành phố cảng:

さいはての駅に下り立ち
雪あかり
さびしき町にあゆみ入りにき
(一握の砂 383)

Saihate no eki ni oritachi
Yuki akari
Sabishiki machi ni ayumi iri ni ki
(Ichiaku no suna 383)

Xuống ga cuối đất cùng trời,
Theo ánh tuyết trắng lần hồi bước vô.
Phố buồn im vắng giữa khuya.

Ở chốn hẻo lánh này, cũng trong tòa báo, Takuboku đã gặp lại người bạn cũ, Satô Kokuji, nay thành bạn đồng sự, phụ trách trang ba. Thời ở Kushiro, ông có để lại nhiều kỷ niệm và nhiều thơ, đặc biệt với cô hầu rượu Koyakko:

しらしらと氷かがやき
千鳥啼く
釧路の海の冬の月かな
(一握の砂 384)

Shirashira to kôri kagayaki
Chidori naku
Kushiro no umi no fuyu no tsuki kana
(Ichiaku no suna 384)

Nước lấp lánh như đóng băng,
Chim di quang quác, màu trăng lạnh lùng
Kushiro biển mùa đông.

小奴といいし女の
やわらかき
耳朶なども忘れかたなり
(一握の砂 391)

Koyakko to i i shi onna no
Yawarakaki
Mimi tabo nado mo wasurekatakari
(Ichiaku no suna 391)

Người con gái đáng yêu ơi,
Trái tai mềm mại nhớ hoài không thôi,
Koyakko, tên em tôi.


Kushiro Shinbun, tòa báo nơi Takuboku từng làm việc

Koyakko (Tiểu Nô) là một cô geisha hầu rượu, tên thật là Watanabe Jin, năm đó vừa 19 tuổi, xuất thân ở Hakodate. Cô làm việc tại trà đình Shamotora, nơi tòa báo hay tổ chức những buổi liên hoan. Tuy cô mới vào làm, còn chưa thạo việc, nhưng đó là điều làm cho Takuboku thấy có cảm tình. Cô nhỏ thua Takuboku 4 tuổi. Hình như khi Takuboku dời xuống Tôkyô, họ còn gặp nhau dưới đó. Trong nhật ký của ông, tên Koyakko được nhắc đến rất nhiều. Sau cô lấy chồng rồi góa bụa, để sinh nhai cô có mở một ngôi nhà trọ nhỏ tên Ômiya ở Kushiro. Ômi là tên người chồng cô. Sau thế chiến thứ hai, cô mới mất, lúc đã ngoài 70. Cô là một trong "những người khó quên" của nhà thơ. Không những cái trái (dái) tai mềm mại đáng yêu mà còn là "những gì khác" mà nhà thơ chỉ nhắc đến nhẹ nhàng là "mimitabo nado" nghĩa là "cái trái tai vv và vv"…Trái tai là một nét đẹp kín đáo cũng như cái gáy nơi người phụ nữ Nhật. Đối với cô hầu rượu thì nó còn có ý nghĩa hơn nữa: trái tai là một nơi lạnh nhất trên người nên khi người ta đụng vào vật gì nóng (như nậm rượu sake mới hâm xong), sợ phỏng thì họ vừa đưa tay lên sờ trái tai cho bớt nóng vừa xuýt xoa. Có khi chỉ là làm dáng thôi nhưng đó là một cử chỉ duyên dáng độc đáo khi thấy nơi người đàn bà.

Bài thơ dưới đây nhiều người cho rằng nhân vật nữ là Koyakko. Sau gần 3 tháng (đúng ra là 76 ngày) làm báo ở Kushiro, Takuboku có triệu chứng mệt mỏi nên thường lui tới những trà đình tửu điếm tìm quên. Động từ yorisou thấy trong câu đầu có nghĩa là "nép vào nhau" "tựa vào nhau" cho thấy đây là cảnh tượng âu yếm của đôi tình nhân:

よりそいて
深夜の雪の中に立つ
女の右手のあたたかきかな
(一握の砂 392)

Yorisoite
Shinya no yuki no naka ni tatsu
Onna no mete no atatakaki kana
(Ichiaku no suna 392)

Đứng trong tuyết hai mái đầu,
Trời khuya khoắt lạnh, nép vào bên nhau,
Bàn tay nàng ấm làm sao.

Chùm thơ dưới đây nói về liên hệ của ông với những trà đình tửu điếm ở Kushiro và dù không nhắc tên, có nhiều khả năng người đàn bà trong cuộc là Koyakko:

火をしたう虫のごとくに
ともしびの明るき家に
通い慣れにき
(一握の砂 400)

Hi wo shitau mushi no gotoku ni
Tomoshibi no akaruki ie ni
Kayoi nare ni ki
(Ichiaku no suna 400)

Thấy đâu có ánh đèn lòa,
Mình lao vào chết như là thiêu thân,
Quen thói ấy đã bao năm.

きしきしと寒さに踏めば板軋む
かえりの廊下の
不意のくちづけ
(一握の砂 401)

Kishikishi to samusa ni fumeba itakishimu
Kaeri rôka ni
Fui no kuchizuke
(Ichiaku no suna 401)

Khi ra về chân vấn vương,
Sàn ván kẽo kẹt lạnh đường hành lang
Vô tình môi chạm môi nàng.

その膝に枕しつつも
我がこころ
思いしはみな我のことなり
(一握の砂 402)

Sono hiza ni makura shitsutsu mo
Ware ga kokoro
Omoi shi wa mina ware no koto nari
(Ichiaku no suna 402)

Dẫu gối đầu lên đùi người,
Mà lòng ta cứ không ngơi nghĩ thầm,
Nỗi lo lắng của riêng mình.

Bài sau này đi xa hơn khi hé lộ sự bí mật của người con gái, trong quá khứ có lần đã quá khổ tâm muốn đi tìm cái chết. Nó cũng cho thấy hai tình nhân này chắc đã có lần nghĩ tới giải pháp cuối cùng:

死にたくはないかと言えば
これを見よと
咽喉の瘕を見せし女かな
(一握の砂 393)

Shinitaku wa nai ka to ieba
Kore wo miyo to
Nondo no kizu wo miseshi onna kana
(Ichiaku no suna 393)

Nhớ người con gái ta quen,
Cho xem vết sẹo ở trên cổ nàng.
"Thưa anh, sống chết đâu màng!"

Tâm tư u uất và tuyệt vọng
Thơ Takuboku rất giàu hình ảnh, tỉ dụ: con chó điên sủa trăng, tiếng trùng kêu, cái vực thẳm đen ngòm như muốn nuốt mình. Những ví dụ ấy tuy rất tinh tế nhưng thường nhuốm màu sắc bi quan, vô vọng:

わが泣くを少女等《をとめら》きかば
病犬《やまいぬ》の
月に吠《ほ》ゆるに似たりといふらむ
(一握の砂 17)

Wa ga naku wo otomera kikaba
Yamainu no
Tsuki ni hoyuru ni nitari iu ramu
(Ichiaku no suna 17)

Những nàng con gái nghe ta
Một mình tức tưởi, chắc là kháo nhau:
"Con chó điên sủa trăng thâu!"

何処《いづく》やらむかすかに虫のなくごとき
こころ細《ぼそ》さを
今日《けふ》もおぼゆる
(一握の砂 18)

Izuku yara mukasu ka ni mushi no naku gotoki
Kokoroboso sa wo
Kyô mo oboyuru
(Ichiaku no suna 18)

Từ đâu văng vẳng tiếng trùng,
Nghe như than thở chạnh lòng ưu tư.
Thêm một ngày nặng gánh lo.

いと暗き
穴《あな》に心を吸《す》はれゆくごとく思ひて
つかれて眠る
(一握の砂 19)

Ito kuraki
Ana ni kokoro wo suwareyuku gotoku omoite
Tsukarete nemuru
(Ichiaku no suna 19)

Thấy lòng mình bị cuốn vào,
Vực sâu tăm tối, cách nào thoát đây.
Mệt nhoài rồi ngủ thiếp ngay.

Xóm Asakusa nói đến sau đây là một xóm bình dân náo nhiệt ở Tôkyô tự thời Edo. Ngày xưa, nhiều lần Takuboku cũng đã lui tới với các chị em xóm ấy ở một trà đình cất cạnh chùa, có tên là Tôkaen (Tháp Hạ Uyển, Vườn bên chân tháp). Tuy nhiên bài thơ về Asakusa dưới đây không mang dấu ấn của nỗi buồn tiếc nuối về những thám năm hoan lạc cũ mà chỉ cô đọng nỗi buồn của kiếp nhân sinh nói chung. Đó là sự cô độc tiên thiên của một người đôi lúc tìm ra được niềm vui nhất thời khi đứng giữa đám đông:

浅草《あさくさ》の夜《よ》のにぎはひに
まぎれ入《い》り
まぎれ出《い》で来《き》しさびしき心
(一握の砂 22)

Asakusa no yo no nigiwai ni
Magire iri
Magire ide kishi sabishiki kokoro
(Ichiaku no suna 22)

Asakusa vui sao,
Là khi giữa phố chen vào đám đông.
Chứ về lòng chỉ trống không.

愛犬《あいけん》の耳|斬《き》りてみぬ
あはれこれも
物に倦《う》みたる心にかあらむ
(一握の砂 23)

Aiken no mimi kirite minu
Aware kore mo
Mono ni umitaru kokoro ni ka aramu
(Ichiaku no suna 23)

Tội nghiệp chó yêu của ta,
Có lần muốn xách lên mà cắt tai,
Tinh thần mình hẳn mệt nhoài?

Dĩ nhiên đây chỉ là một bài thơ nghịch ngợm chứ Takuboku không phải là người bạo ngược với loài vật như thế. Tác giả diễn tả một tâm trạng trầm cảm nơi ông vào thời điểm ấy.

呆《あき》れたる母の言葉に
気がつけば
茶碗《ちやわん》を箸《はし》もて敲《たた》きてありき
(一握の砂 26)

Akiretaru haha no kotoba
Ki ga tsukeba
Chawan wo hashi mote tatakite ariki
(Ichiaku no suna 26)

Ngán ngẫm mẹ nói cả ngày,
Bỗng nhiên chợt thấy mình bày trò chơi,.
Cầm đũa gõ bát khơi khơi.

草に臥《ね》て
おもふことなし
わが額《ぬか》に糞《ふん》して鳥は空に遊べり
(一握の砂 27)

Kusa ni nete
Omou koto nashi
Wata nuka ni fun shite tori ga sora ni toberi
(Ichiaku no suna 27)

Trên cỏ thanh thản nằm yên,
Phân chim đâu lại rớt lên trán mình
Vô tình chim lượn trời xanh.

わが髭《ひげ》の
下向く癖《くせ》がいきどほろし
このごろ憎《にく》き男に似たれば
(一握の砂 28)

Wa ga hige no
Shita muku kuse ga ikidohoroshi
Konogoro nikuki hito ni nitareba
(Ichiaku no suna 28)

Để râu, râu cứ cụp hoài
Đâm ra bực bội mặt mày chán chê.
Mình giống đứa mình ghét ghê!

森の奥より銃声《じうせい》聞ゆ
あはれあはれ
自《みづか》ら死ぬる音のよろしさ
(一握の砂 29)

Mori no oku yori juusei kiyu
Aware aware
Mizukara shinuru oto no yoroshisa
(Ichiaku no suna 29)

Rừng sâu nghe một tiếng đoành,
Lòng đem tội nghiệp cái anh chán đời
Chỉ mong người chết là tôi.

大木《たいぼく》の幹《みき》に耳あて
小半日《こはんにち》
堅《かた》き皮をばむしりてありき
(一握の砂 30)

Taiboku no miki ni mimi ate
Kohannichi
Kataki kawa wo bamushirite ariki
(Ichiaku no suna 30)

Cả nửa ngày cứ nhẩn nha,
Áp tai vào cội cây già mà thôi
Tay cào vỏ cứng nghịch chơi

Có phải đấy là hình ảnh của nhà thơ, đồng thời là con chim gõ mõ hay gõ kiến (trác mộc, woodpecker) như biệt hiệu của ông [17] :

ふと深き怖れを覚え
ぢっとして
やがて静かに臍《ほそ》をまさぐる
(一握の砂 33)

Futo fukaku osore wo oboe
Jitto shite
Yagate shizuka ni heso wo masaguru
(Ichiaku no suna 33)

Nỗi sợ không biết đâu ra
Bỗng nhiên xâm chiếm làm ta lặng mình
Dịu dàng xoa rốn dỗ dành.

高山《たかやま》のいただきに登り
なにがなしに帽子《ばうし》をふりて
下《くだ》り来しかな
(一握の砂 34)

Takayama no itadaki ni nobori
Nani ga nashi ni bôshi wo furite
Kudari kishi kana
(Ichiaku no suna 34)

Trèo lên trên đỉnh núi cao,
Vô cớ vẫy nón như chào ai đây
Rồi ta lại hạ sơn ngay.

怒《いか》る時
かならずひとつ鉢《はち》を割《わ》り
九百九十九《くひやくくじふく》割りて死なまし
(一握の砂 36)

Ikaru toki
Kanarazu hitotsu hachi wo wari
Kuhyakukujuuku warite
Shinamashi
(Ichiaku no suna 36)

Giận lên ném bát vỡ ngay,
Chín trăm chín chín do tay ta rồi.
Bỗng dưng muốn chết đi thôi.

何《なに》となく汽車に乗りたく思ひしのみ
汽車を下《お》りしに
ゆくところなし
(一握の砂 39)

Nani to naku kisha ni noritaku omoishi nomi
Kisha wo orishi ni
Yuku tokoro nashi
(Ichiaku no suna 39)

Cơn thèm làm mình tự dưng,
Muốn trèo xe lửa lên đường cho mau.
Nhưng xuống ga, biết đi đâu?

空家《あきや》に入《い》り
煙草《たばこ》のみたることありき
あはれただ一人|居《い》たきばかりに
(一握の砂 40)

Akiya ni iri
Tabako no mitaru koto ariki
Aware tada hitori / itaki bakari ni
(Ichiaku no suna 40)

Ta vào căn nhà bỏ hoang,
Châm điếu thuốc lá đâu màng hút chơi,
Chỉ mong tìm chút lẻ loi.

何がなしに
さびしくなれば出《で》てあるく男となりて
三月《みつき》にもなれり
(一握の砂 41)

Nani ga nashi ni
Sabishiku nareba dete aruku otoko to narite
Mitsuki ni mo nareri
(Ichiaku no suna 41)

Người không chi cũng buồn ngang,
Bỏ nhà rồi cứ lang thang là mình.
Ba tháng nay đổi tính tình.

飄然《へうぜん》と家を出《い》でては
飄然と帰りし癖よ
友はわらへど
(一握の砂 15)

Hyôzen to ie wo idete wa
Fuuzen to kaeri shi kuse yo
Tomo wa waraedo
(Ichiaku no suna 15)

Bao hôm vô cớ bỏ nhà
Rồi cũng vô cớ chợt ta bò về
Thói hư mặc bạn cười chê .

Những ngày đợi chết
Thế rồi một ngày Takuboku đột nhiên đã viết ba chữ "saraba" (vĩnh biệt) trong nhật ký, bỏ thành phố Kushiro, bỏ vợ con, bỏ tất cả, để xuống Tôkyô, một lần nữa lăn vào chốn trường văn trận bút. Năm đó ông 26 tuổi. Ông hăm hở đón một cái Tết Nguyên Đán (xin hiểu là ngày mồng một Tết theo dương lịch mà nhà nước Meiji đã chọn khi duy tân) tươi mới:

何となく
今年はよい事あるごとし
元日の朝晴れて風無
(悲しき玩具 38)

Nan to naku
Kotoshi wa yoi koto aru gotoshi
Ganjitsu no asa harete kaze nashi
(Kanashiki gangu 38)

Mặc dù chưa biết ra sao,
Sáng nay năm mới thấy bao điềm lành
Trời trong gió lặng cho mình.

Nó giống như một tình cảm từng có trước đây:

やはらかに積れる雪に
熱《ほ》てる頬《ほ》を埋《うづ》むるごとき
恋してみたし
(一握の砂 215)

Yawarakani tsumoru yuki ni
Hoteru ho wo uzumuru gotoki
Koishite mitashi
(Ichiaku no suna 215)

Như đem má nóng ấp lên,
Một vùng tuyết phủ mịn mềm xem sao
Thử yêu để thấy thế nào!

Thế nhưng niềm hy vọng ấy chưa gì đã vội tan như bọt nước khi trong cơ thể ông, chứng viêm phúc mô mãn tính trở nên trầm trọng, phải nhập viện. Vài tháng sau lại phát hiện mình đã nhuốm lao phổi, một bệnh nan y của thời ấy:

呼吸すれば
胸の中にて鳴る音あり
木枯しよりもさびしきその音
(悲しき玩具 1)

Iki sureba
Mune no uchi nite naru oto nari
Kogarashi yori mo sabishiki sono oto
(Kanashiki gangu 1)

Mỗi khi hít thở ra vào,
Thấy trong lồng ngực ào ào lạ tai,
Tiếng buồn hơn gió trút cây.

Đây là bàn thơ đăng mào đầu cho Kanashiki gangu (Món đồ chơi buồn bã), tập di cảo không tên của nhà thơ, do bạn ông là Toki Zenmaro (tức nhà thơ Toki Aika) đứng ra in và đặt tựa. Bản đầu tiên ra đời tháng 6 năm 1912, thu thập lại những bài làm ra từ sau Ichiaku no suna (1910), tổng cộng 194 bài. Lúc này bà vợ ông cũng bị một loại viêm phổi do niêm dịch tiết ra quá nhiều (catarrhe). Tiếng kêu trong phổi mà Takuboku cảm thấy có lẽ là tiếng khò khè vì nhiều đàm mà ông nghe nó còn thê thảm hơn tiếng cơn gió bấc mùa thu (kogarashi). Bài thơ sau đây nghe còn cảm thương hơn nữa:

目閉づれど
心にうかぶ何もなし
さびしくもまた目をあけるかな
(悲しき玩具2)

Me tozuredo
Kokoro ni ukabu nani mo nashi
Sabishiku mo mata me wo akeru kana
(Kanashiki Gangu 2)

Nhắm mắt chỉ thấy trống trơn,
Không một hình ảnh nào còn trong ta,
Buồn tình lại mở mắt ra.


Nhà lưu niệm Takuboku ở Tamayama (tỉnh Iwate)

Nhà thơ đã mất hết khí lực. Trí tưởng tượng, nguồn cảm hứng thi ca đều đã bỏ ra đi. Phút chung cuộc gần kề. Những ngày tháng đó, ông rất nhạy cảm với thái độ của người khác, kể cả các cô y tá hay bác sĩ. Với tâm lý bi quan của người bệnh, ông đã tưởng tượng ra nhiều tình cảnh trong tư thế thụ động của mình: bàn tay của cô khán hộ sao có hôm ấm áp hôm lại lạnh lùng, người bác sĩ đi một vòng khám bệnh sao hôm đó lại đến trễ để ông phải đau đớn.

脉をとる看護婦の手の
あたたかき日あり
つめたく堅き日もある
(悲しき玩具 96)

Myaku wo toru kangofu no te no
Atatakaki hi ari
Tsumetaku kataki hi mo ari
(Kanashiki gangu 96)

Cô khán hộ chẩn mạch ta,
Bàn tay có bữa sao mà ấm ghê.
Đôi khi lạnh cứng nữa kìa.

回診の医者の遅さよ
痛みある胸に手をおきて
かたく眼をとづ
(悲しき玩具 119)

Kaishin no isha no ososa yo
Itami aru mune ni te wo okite
Kataku me wo tozu
(Kanashiki Gangu 119)

Bác sĩ chưa khám hết vòng,
Phải đưa tay tự chận lồng ngực đau.
Nhắm nghiền đôi mắt thật lâu.

Từ hôm nằm trên giường bệnh, Takuboku mới thấy tội nghiệp vợ con , những người ông đã bỏ bê để theo đuổi cái nghiệp văn chương. Tình cảm chân thật đó như dậy lên từ tận đáy hồn:

病院に来て
妻や子をいつくしむ
まことに我にかえりけるかな
(悲しき玩具 107)

Byôin ni kite
Tsuma ya ko wo itsukushimu
Makoto ni ware ni kaeri keru kana
(Kanashiki gangu 107)

Từ hôm nhập viện nằm suông,
Mới thấy thật buồn tội nghiệp vợ con,
Tình thương trở lại trong hồn.

Trên giường bệnh, không còn đủ sức để cầm cuốn sách lên. Đọc nhiều thì mệt, xoay trở lại đau đớn nhưng hễ không đọc sách thì đầu óc lại suy nghĩ mông lung:

寝つつ読む本の重さに
つかれたる
手を休めては、物を思えり
(悲しき玩具 122)

Netsutsu yomu hon no omosa ni
Tsukaretaru
Te wo yasumete wa monowo omoeri
(Kanashiki Gangu 122)

Vừa nằm vừa đọc mệt ơi,
Đặt quyển sách nặng nghỉ ngơi chút nào.
Thì trong đầu chuyện rối bời.

Nghĩ đến cái chết, những muốn về chết ở quê hương:

今日もまた胸に痛みあり
死ぬならば
ふるさとに行きて死なむと思う
(悲しき玩具 150)

Kyô mo mata mune ni itami ari
Shinu naraba
Furusato ni ikite shinamu to omou
(Kanashiki Gangu 150)

Hôm nay lồng ngực lại ran,
Làm ta muốn trở về làng của ta.
Chết xin chết ở quê nhà.

Trên giường bệnh, có nhớ chăng là nhớ một tiếng chim kankodori (hay kakkodori, cuckoo) của quê hương Đông Bắc. Chim kankodori là một giống chim di, mùa hạ đến Nhật, đẻ trứng trong tổ các loài chim khác như mozu (bách thiệt, butcher-bird) hay hôjiro (bạc má, Japanese bunting) là những loại chim thuộc giống se sẻ, nhờ chúng ấp hộ. Tiếng kêu của nó đã hằn trong ký ức của nhà thơ suốt thuở thiếu thời:

いま、夢に閑古鳥を聞けり
閑古鳥を忘れざりしが
かなしくもあるかな
(悲しき玩具 131)

Ima yume ni kankodori wo kikeri
Kankodori wo wasurezarishi ga
Kanashiku mo aru kana
(Kanashiki Gangu 131)

Giờ đây mỗi lúc chiêm bao,
Dù không nhớ bóng, tiếng đâu vọng về,
Cúc cu buồn gợi niềm quê

Lúc đó, Takuboku cũng hồi tưởng lại giấc mộng theo đòi binh nghiệp của thời niên thiếu để được nổi danh như các bạn trang lứa cùng học ở Trung học Morioka. Họ là Yonai Mitsumasa (Đại tướng hải quân, Tổng trưởng hải quân, Thủ tướng) Yasumi Saburô (Trung tướng hải quân, Đại biểu quốc hội), Oikawa Kojirô (Đại tướng hải quân, Tổng trưởng hải quân), Itagaki Seishirô (Đại tướng lục quân, Tổng trưởng lục quân, Chiến phạm hạng A). Vào thời Meiji, sự thành công của các học sinh đàn anh đã ảnh hưởng đến tâm lý lớp người đi sau như Takuboku. Thế nhưng đời ông đã rẽ qua một hướng khác, một phần vì sức khỏe kém và thiếu thước tấc để được trưng binh nhưng một phần cũng vì tấm lòng quá thiết tha với văn chương:

軍人になると言い出して
父母に
苦労させる昔の我かな
(悲しき玩具 111)

Gunjin ni naru to iidashite
Chichi haha ni
Kurô sasetaru mukashi no ware kana
(Kanashiki Gangu 111)

Nhớ ngày xưa mộng võ biền,
Thốt ra lời ấy để phiền mẹ cha.
Bao năm lao khổ vì ta.


Phần mộ gia đình Takuboku ở Hakodate

Vào phút cuối cùng, xem chừng trước khi chết, Takuboku chỉ nghĩ có mỗi một chuyện mà ông xem là tối quan trọng: lo cho một tập thơ nữa sớm ra đời. Chắc ông định đem ra bàn với vợ sách phải thế nào, bìa phải thế nào cũng như lần trước. Ôi, Takuboku, những vần thơ kia có khác gì đâu một món đồ chơi, món đồ chơi buồn bã của ông:

いつか、是非、出さんと思う本のこと
表紙のことなど
妻に語れる
(一握の砂 124)

Itsu ka zehi dasan to omou hon no koto
Hyôshi no koto nado
Tsuma ni katareru
(Ichiaku no suna 124)

Nhất định bàn với vợ nhà
Thơ sắp xuất bản phải ra thế nào.
Bìa làm sao, sách làm sao.

Ngày 13 tháng tư năm 1912, trước sự chứng kiến của cha mình, của vợ là bà Setsuko và người bạn thân, nhà thơ Wakayama Bokusui, Takuboku trút hơi thở cuối cùng, không kịp thấy tác phẩm Kanashiki Gangu (Món đồ chơi buồn bã) ra đời.

Biên soạn xong tại Tôkyô ngày 23 tháng 10 năm 2011
Bản cập nhật ngày 23 tháng 11 năm 2011.
PHỤ LỤC
Niên Biểu Đời Takuboku

Để tiện theo dõi một bài viết vốn không triệt để tuân theo thứ tự thời gian, xin tham khảo niên biểu tóm tắt sau đây của nhà thơ Takuboku:

1886 (1 tuổi): Sinh ra ở thôn Hinoto trong một gia đình Phật giáo tông Tào Động. Bố là Ishikawa Ittei, trụ trì chùa Jôkôji, năm đó 37 tuổi. Mẹ là bà Kudô Katsu, 40 tuổi. Chị cả Sada, 11 tuổi, chị hai Tora lên 9.

1887 (2 tuổi): Bố chuyển qua giữ chùa Hôtoku , cả nhà dọn về thôn Shibutami.

1891 (6 tuổi): Nhập học trường tiểu học cơ sở Shibutami.

1892 (7 tuổi): Cùng với mẹ với em gái Mitsuko được chính thức nhập hộ tịch nhà Ishikawa.

1895 (10 tuổi): Vào trường cao đẳng tiểu học Morioka sau khi tốt nghiệp tiểu học. Trọ học ở nhà người cậu trên Morioka.

1898 (13 tuổi): Sau ba năm học, thành tích và hạnh kiểm đều tốt, thi đỗ, được lên học trung học ở trường tỉnh Morioka.

1899 ( 14 tuổi): Lên năm thứ hai. Quen biết Horiai Setsuko, học trường nữ kề bên.

1900 ( 15 tuổi): Lên năm thứ ba, cùng bạn bè ra một tạp chí đọc chuyền tay, được hai số. Được các học sinh lớp trên như Oikawa, Kindaichi, Nomura chỉ dẫn về văn học, tìm đọc tạp chí thơ Myôjô.

1901 ( 16 tuổi): Tham gia vào vụ bãi khóa trong nhà trường. Lại cùng chúng bạn ra tạp chí đọc chuyền tay. Lấy bút danh Ishikawa Suikô (Thúy Giang). Viết 6 bài tanka in trong một tập thơ chung với chúng bạn. Tình cảm với Horiai Setsuko tiến xa hơn.

1902 ( 17 tuổi): Lên năm thứ năm. Hai lần bị tố cáo là gian lận trong kỳ thi. Giữa năm, viện cớ hoàn cảnh gia đình, xin thôi học. Lên Tôkyô theo nghiệp văn chương, hội họp với nhóm Shinshisha (Tân Thi Xã) bên cạnh vợ chồng Yosano Tekkan và Akiko. Lâm bệnh, lui về nằm dài ở nhà trọ.

1903 ( 18 tuổi): Theo bố về quê dưỡng bệnh trong thiền phòng. Nghiên cứu cuộc đời và tư tưởng Richard Wagner và cho đăng bài viết về ông ta trên báo tỉnh nhà (bút hiệu Hakuhin hay Bạch Tần). Bắt đầu gửi bài đóng góp với Tạp chí Myôjô, bút hiệu Takuboku (Trác Mộc).

1904 ( 19 tuổi) : Hứa hôn với Horiai Setsuko. Đăng thơ trên Myôjô và nhiều tạp chí khác. Lại xuống Tôkyô để lo xuất bản thi tập đầu tay. Cùng năm, bố bị bãi chức trụ trì vì chuyện nộp trễ tiền cho nhà chùa.

1905 ( 20 tuổi): Cho ra đời thi tập Akogare (Ngưỡng vọng). Trở về Morioka cưới vợ. Ra mắt Tạp chí văn học Shôtenchi (Tiểu Thiên Địa).

1906 ( 21 tuổi): Cha lại được phục chức nhưng vướng vào việc tranh chấp khác. Takuboku nhận chân giáo viên phụ khuyết ở trường tiểu học Shibutami. Viết Kumo wa tensai dearu (Mây là một thiên tài) và Omokage (Vang bóng), hai cuốn tiểu thuyết.Vợ sinh con gái đầu lòng là Kyôko.

1907 ( 22 tuổi): Bố không được đi làm lại, buồn bỏ nhà nương tựa người khác. Thi văn đoàn Bokushuku rủ Takuboku lên đảo Hokkaidô. Dắt mỗi em gái lên đảo, đến Hakodate ở xóm Aoyagi.Em gái đi lấy chồng ở trên đó.

Dạy ở trường tiểu học Yayoi (lương 12 Yen khá hơn 8 Yen thời ở Shibutami), gọi vợ con rồi mẹ lên sống chung. Lại trở thành ký giả lưu động cho báo Nichinichi Shinbun ở Hakodate. Sau khi Hokodate bị hỏa hoạn lớn, bỏ đi Sapporo, Otaru. Cãi nhau với cấp trên, bị hành hung, thôi việc làm báo ở Otaru.

1908 ( 23 tuổi) Bạn lại kiếm cho việc ở Kushiro, vẫn trong nghề báo. Viết cả bình luận chính trị và phóng sự. Quen và thân với Koyakko. Sau vì quyết tâm hoạt động văn nghệ nên bỏ Kushiro xuống Tôkyô. Được Mori Ôgai và Kindaichi Kyônosuke giúp đỡ.

1909 ( 24 tuổi): Ra mắt tạp chí Subaru (Chòm sao Pleiades, Thất tinh). Nhờ bạn đồng hương là Satô Shin-ichi giới thiệu, vào làm nhân viên hiệu đính cho tờ Tôkyô Asahi Shinbun. Đón được gia đình xuống ở chung trên gác hai một hiệu cắt tóc phố Hongô. Vì sinh hoạt túng quẫn, bệnh tật, lục đục với mẹ chồng nên Setsuko buồn bực, bế con bỏ nhà đi, Kindaichi khuyên mãi mới quay về. Những sự kiện đó làm tinh thần Takuboku suy sụp.

1910 ( 25 tuổi): Viết xong thi tập Shigoto no ato (Sau giờ làm việc), bắt đầu tiểu thuyết Warera ichidan to kare (Lũ chúng ta và hắn). Xúc động vì cái án gắn cho Kôtoku Shusui nên viết Jidai heisoku no genjô (Hiện trạng một thời đại bế tắc). Trở thành giám khảo mục thơ tanka cho báo Asahi. Cho ra đời thi tập tanka Ichiaku no suna (Một vốc cát) giữa cảnh tượng bi đát là lúc con trai là Shin-ichi lâm bệnh chết. Tuy nhiên qua tác phẩm ấy được đánh giá như nhà thơ tanka hàng đầu.

1911 ( 26 tuổi): Dự định hợp tác ra tạp chí Jumoku to Kajitsu (Cây và trái) với bạn thơ là Toki Zenmaro (nhà thơ khuynh hướng xã hội Toki Aika) [18] . Bị viêm phúc mô mãn tính buộc phải vào bệnh viện. Công việc ra mắt tạp chí bị đình vì nhà in phá sản. Takuboku dính thêm ho lao. Vẫn sáng tác. Viết được 9 thiên Hateshi naki giron no ato (Sau khi nghị luận vòng vo), Ie (Mái nhà), Hikôki (Tàu bay) và chuẩn bị tập thơ thứ hai nhan đề Yobiko to kuchibue (Thổi còi và huýt sáo), đậm màu sắc đối kháng chính trị. Tháng 7, sốt nặng, Miyazaki Ikuu giúp phương tiện dọn về nhà mới ở Koishikawa nhưng gia đình lại lục đục, bố bỏ đi mất. Nghi ngờ giữa vợ mình (Setsuko) và bạn thân (Ikuu) có gì bất chính nên Takuboku tuyệt giao với bạn [19] .

1912 ( 27 tuổi): Mẹ là bà Katsu chết vì lao vào tháng 3. Toki Aika hết lòng giúp Takuboku xong giao kèo in thi tập thứ hai, nhờ đó nhà xuất bản ứng trước 20 Yen nhuận bút. Nhưng sang tháng 4, bệnh nguy ngập, sáng 13 thì hấp hối. Bố và vợ về kịp chứng kiến phút lâm chung bên cạnh bạn thơ là Wakayama Bokusui. Lễ tang làm một lần với 51 người khác ở chùa Asakusa, năm sau, tro cốt mới đem được về Hakodate. Bạn cũ và cũng là em đồng hao là Miyazaki Ikuu cùng những kẻ có lòng cùng nhau lập mộ. Tháng 6 năm đó, thứ nữ Fusae ra đời sáu hôm trước tập thơ Kanashiki gangu (Món đồ chơi buồn bã). Sang năm 1913, bà Setsuko cũng mất theo vì chứng lao.

THƯ MỤC THAM KHẢO
1) Itô Nobukichi chủ biên, 1967, Nihon no Shika 5, Ishikawa Takuboku (Thi Ca Nhật Bản, quyển 5 về Takuboku, A Treasury of Japanese Poetry) , Chuuô Kôron xuất bản, Tôkyô.
2) Kusakabe Enta, 1980, Ishikawa Takuboku, Kôdansha shinsho, Kôdansha xuất bản, Tôkyô.
3) Mori Hajime, 1982, Takuboku to Eibungaku (Takuboku và văn học Anh), Yôyôsha xuất bản, Tôkyô.,
4) Nagata Yoshinao, 1976, Kindai Tanka Meisakusen (Tuyển tập Tanka cận đại), Kin.ensha xuất bản, Tôkyô.
5) Nguyễn Nam Trân, 2011, Tổng Quan Lịch Sử Văn Học Nhật Bản, Nhà Xuất Bản Giáo Dục Việt Nam, Hà Nội.
6) Saiguchi Takayuki, 2009, Takuboku, furusato no soratômi kamo (Takuboku chắc nhớ về một cố hương xa xôi), Honnami Shoten, Tôkyô.
7) Takahashi Tomoko & Thierry Trubert-Ouvrard, 2003, Ishikawa Takuboku, L’Amour de Moi (Tự thương ca), Editions Arfuyen, Orbey, France.
8) Ueda Hiroshi, 2001, Ishikawa Takuboku Kashuu (Về hai thi tập của Ishikawa Takuboku), Ôfuu xuất bản, Tôkyô.
9) Wada Shuuzô và Ueda Hiroshi, 2002, Onoe Saishuu & Ishikawa Takuboku (Hai nhà thơ Saishuu và Takuboku), Kôyô Shobô, Tôkyô.
[1] - Thi nhân Trung Đường, hiệu là Trường Cát, như Takuboku, chết lúc mới 27 tuổi (790-816). Thơ hay nhưng khó hiểu. Khi Lý Bạch được xem là thiên tài, Bạch Cư Dị là nhân tài thì người ta gọi ông là quỷ tài.

[2] - Bà cũng là một nữ giáo viên phụ khuyết chuyên dạy nữ công khâu vá.Họ quen nhau từ khi Takuboku mới 14 tuổi.

[3] - Tập thơ gồm 551 bài "tanka ba hàng" tuy cũng có trên dưới 31 âm nhưng không bố trí như tanka cổ điển chỉ có một hàng liên tục. Tập lại chia ra thành nhiều phần nhỏ mang tên Ware ga aisuru uta (Tự thương ca, bài 1 đến 151), Kemuri I (Khói I, bài 152 đến198), Khói II (bài 199 đến 252), Akikaze no kokoro yosa (Gió thu mát lòng, bài 253 đến 303), Wasuregataki hitobito I (Những người khó quên I, bài 304 đến 414) Wasuregataki hitobito II (Những người khó quên II, bài 415 đến436), Tebukuro wo nugu toki (Khi đang tháo găng tay, bài 437 đến551).

[4] - Wada và Ueda (sđd, trang 97) cho biết đó là chữ dùng của Inoue Yonejirô (Đông hải quân tử quốc) trong thi tập của ông. Nhà thơ Tsuchii (Doi) Bansui cũng có câu thơ chữ Hán "Ô hô Đông hải quân tử quốc".

[5] - Đảo Hokkaidô nổi tiếng vì sản vật của nó, những giống cua vùng Bắc hải, lớn con, chắc thịt, vị ngon. Tuy nhiên có thể nghĩ đây chỉ là loại dã tràng hoài công xe cát.

[6] - Xin để ý cách phiên âm chữ Hiragana ra Romaji trong các bài thơ theo lối hiện đại. Ho, hi, ha…có thể đọc thành o, i hay wa.

[7] - Có lẽ chữ "đại" giống hình dạng một người buông dang cả tay chân như hoà nhập vào vũ trụ?

[8] - Kôtoku Shusui (1871-1911) là người theo chủ nghĩa xã hội. Ông sinh ở Kôchi trên đảo Shikoku, học trò của nhà tư tưởng Nakae Chômin, hành nghề ký giả. Trong chiến tranh Nhật Nga đã kêu gọi phản chiến. Trước đề xướng phong trào bình dân. Sau khi đi Mỹ về chuyển sang chủ nghĩa vô chính phủ. Bị vướng vào vụ án đại nghịch với tội danh cộng mưu ám sát thiên hoàng năm 1910 nhưng thực ra là hàm oan. Bị xử tử hình năm 1911.

[9] - Còn gọi là Miyazaki Ikuu (Úc Vũ). Ông là người bạn chung thủy của gia đình nhưng cũng có thuyết cho là ông yêu thầm bà Setsuko, vợ Takuboku. Sau ông lập gia đình với em gái bà là Fuki và là người đứng ra xây mộ cho gia đình sau khi vợ chồng Takuboku mất.

[10] - Tô de shindô, juugo de tensai, hatachi sugireba tada no hito.

[11] - Viết rodai (lộ đài) nhưng xin đọc là barukon (balcon)

[12] - Phải nói thêm là trong Nhật ngữ, số tám còn dùng để chỉ để chỉ số nhiều, rất nhiều. Dịch "tám năm" chỉ có mục đích đối lại với "bốn hướng" mà thôi.

[13] - Một người đàn bà tên Tachibana Chieko, bạn đồng nghiệp ở trường tiểu học Yayoi ở Hakodate
  cũng có thể là đối tượng yêu đương của ông. Nếu không khó lòng giải thích hơn 20 bài thơ ông đã viết về bà dù người ta cho biết ông và bà chỉ có dịp nói chuyện với nhau đôi ba lần. Có lẽ đây chỉ là mối tình đơn phương của một tâm hồn nhạy cảm.

[14] - Trong bài thơ nhan đề Ôgata no hifu no (Ichiaku no suna), Takuboku có nhắc đến mối tình đầu của ông qua hình ảnh một cô bé gái hay mặc chiếc áo khoác ngoài kimono rộng thùng thình in hình bông hoa màu đỏ. Năm đó ông mới lên sáu.Các nhà chú thích cho rằng cô gái ấy tên Sata, con người thợ mộc trong làng, bạn chơi đùa với ông ngày bé. Sata chết năm 11 tuổi.

[15] - Mục Túc phong cao phùng lập xuân, Hồ Lô giang thượng lệ triêm cân (Mục Túc phong ký gia nhân, thơ Sầm Tham)

[16] - Nhà văn Nga Ivan S. Tourgueniev (Turgenev, 1818-83) nhà văn theo chủ nghĩa lý tưởng (Idealism) thời tiền cách mạng Nga, muốn tìm về khuôn mặt đích thực của con người. Từng bất hòa với mẹ vì bà đối xử tàn nhẫn với một nông nô. Sau sống lưu vong và chết ở Pháp. Ảnh hưởng nhiều đến các nhà văn Nhật Bản.Chúng ta chắc đều nhớ các đoản thiên nhan đề "Tình đầu" "Cuộc hẹn hò" của ông.

[17] - Về bút hiệu Takuboku có thuyết cho rằng do nữ sĩ Yosano Akiko đặt cho ông từ một câu thơ chính ông làm ra. Có lẽ là bài Kitsutsuki ni (Lời gữi con chim gõ mõ) đăng trong số tháng 11 năm 1906 của Tạp chí Shirayuri (Hoa huệ trắng), nói về con chim đi tìm lương thực cho mình bằng cách mổ vào "thân cây của sinh mệnh", một cổ thụ đã sống hàng nghìn năm trong rừng nguyên thủy. Khi viết Nhật ký Romaji, ông tự xưng là H.Ishikawa, The Woodpecker.

[18] - Jumoku (thụ mộc) đi với Takuboku (Trác Mộc), Kajitsu (quả thực) đi với Aika (Ai Quả)

[19] - Kusakabe kể lại là Takuboku tình cờ đọc được lá thư Ikuu gửi cho Setsuko xin một tấm ảnh cá nhân mà bà Setsuko lại dấu lá thư ấy nên đâm ra nghi ngờ bạn và vợ. Nhà phê bình nghĩ rằng đúng ra thì Ikuu chỉ là người quá ngưỡng mộ Takuboku nên đâm ra yêu tất cả những gì thuộc về nhà thơ. Ông đã từng muốn cưới em gái Takuboku là Mitsuko, sau khi chuyện không thành mới kết hôn với Fuki là em ruột bà Setsuko.